Atlantis là
một đại lục huyền ảo, lý tưởng, xưa nay không đâu bằng, với rừng rậm thâm u, với
cánh đồng bát ngát, với khe nước suối, và một con sông lớn ngăn cách Poserdia với
phần đất đai còn lại. Thật là một cõi thần tiên! Vua Atlantis tên là Atlas tức
là một Adam, vợ là Heputh.
Châu
Atlantis chạy dài từ duyên hải đông Hoa Kỳ, gồm những vùng bờ biển Georgia,
Carolina, Virginia, west Indies và Braril, băng qua Ðại Tây Dương đến gần duyên
hải tây Phi Châu. Những vua đầu tiên là những linh hồn tiến hóa cao, còn nhớ đời
sống tâm linh và có thể cảm thông bằng tư tưởng. Vua Atlas phóng những luồng điện
và những người dưới bắt luồng điện ấy hiểu được ý vua không cần nói hay viết.
Nhưng đó
không phải là một trạng thái thôi miên, chỉ là sức mạnh của ý nghĩ. Sức mạnh ấy
tỏa ra từ Atlas qua các con cháu, trở thành năng lực linh động, từ ấy nẩy sinh
ra những sáng chế kỳ lạ, chưa bao giờ có từ khi châu ấy bị chìm. Vua Atlas
phóng ra một tư tưởng, những người khác bắt được làn sóng tư tưởng ấy đưa đến
chỗ thực hiện ý nghĩ thành sự thật. Có như thế, những người Atlantis trong nhiều
ngàn năm, đã sáng chế ra máy bay, tàu ngầm, tàu nổi, và tia điện như loại tia
laser ngày nay, đưa đến một nền văn minh cao tột bực chưa từng có.
Atlas và
Heputh sinh ra 24 người con và có nhiều cháu, đều có trình độ tâm linh cao. Mỗi
người con là một ông Hoàng cai quản khu vực của mình. Anh quốc ngày nay nằm trong
phạm vi của một khu vực, trước khi bị loạt thiên tai nhận chìm tất cả đất đai từ
Hoa Kỳ đến Anh, Bồ Ðào Nha và miền tây Phi Châu. Thời bấy giờ người sống rất
lâu, hàng triệu năm, nên chưa có vấn đề thừa hưởng, và chẳng bao lâu vua Atlas
có hàng trăm con cháu.
Tác giả nhận
thấy rằng những điều Dẫn-đạo-Sư nói trên tương tự với sự tích Atlantis mà nhà học
giả Hy-lạp trứ danh Plato đã để lại cho văn minh tây phương. Plato được biết sự
tích ấy do luật gia đại tài Solon ở thành Athens 600 năm trước kỷ nguyên, ông nầy
đã sang Ai-Cập mười năm và đã học nhiều sự tích Atlantis do các thầy tu thành
Sais, thủ đô Hạ Ai Cập. Theo Plato kể lại, vị thần Poseidon sinh ra năm đứa con
trai sinh đôi, người con trưởng là vua Atlas có nhiều con cháu tiếp tục trị vì
vương quốc trong nhiều thế kỷ.
Dẫn-đạo-Sư
nói thêm rằng Atlas là con cháu là dòng giống thuần túy không bao giờ ô nhiễm
vì chung sống với những bàn-nhân đã có từ lâu trên Atlantis trước thời Atlas.
Người Atlantis coi những bàn-nhân thô lỗ ấy như loài vật để làm việc nặng, như
khuân vác, cày bừa, và sau nầy vận chuyển máy móc.
Tuy có sự
phân biệt giữa hai hạng người và bàn-nhân, nhưng lúc đầu họ không cảm thấy bị lạm
dụng, vì mỗi bên đều làm hết sức mình. Nhưng mấy chục ngàn năm sau, sinh ra có
sự tranh chấp, không những giữa người và bàn-nhân, mà còn ngay chính giữa loài
người, vì bấy giờ đã mất quan niệm họ hàng và quan niệm đồng nhất. Khi ấy Atlas
và con cháu gần đã qua đời lâu rồi, dân chúng đã đông đầy trên đại lục, đồng thời
những chim và thú khổng lồ đã sinh sôi nẩy nở ra nhiều, trở thành mối đe dọa
tiêu diệt nhân loại.
Ðược hỏi rõ
hơn về sự cấu tạo loài người, Dẫn-đạo-Sư nói: Người ta lúc đầu chỉ là những
hình bóng do ý nghĩ của Thượng Ðế mà thành, nhưng từ khi phối hợp với loài vật
sinh ra những bàn-nhân, thì bị ràng buộc vào mặt đất. Khi Thượng Ðế sinh ra nam
và nử là hai phần của linh hồn. Ngài dùng những chất liệu ở mặt đất để tạo
thành những thân hình xác thịt, như đã tạo nên loài vật và các sinh vật khác,
các nguyên liệu căn bản vẫn thế: khí, nước, đất, kim thạch, sinh tố. Thân hình
người ta là sự sáng tạo tối cao, cũng bằng cùng những thứ vật liệu như các hình
thể khác trên trái đất nầy. Xin chớ nghĩ rằng Tạo Hóa có hai bàn tay lớn từ
trên trời thò xuống cạo đất xét trộn với nước, kim thạch, cây cỏ. Thực ra chỉ
là ý nghĩ của Thượng Ðế dùng những vật liệu thích hợp tạo nên hình một sinh vật
hoàn toàn.
Atlantis
trong nhiều ngàn năm được những vua và hoàng tử sáng suốt nối tiếp nhau trị vì,
mưu lợi ích chung. Rồi sau, người Atlantis hành hạ những bàn-nhân, gọi chúng là
lao động nửa người nửa vật, cũng như người Mỹ miền nam trong thời kỳ đồn điền
hưng thịnh, những trại chủ hành hạ người da đen bị bắt từ Phi Châu tới để làm
nô-lệ. Những bàn-nhân xấu số ấy thường ở với nhau, nên dòng giống không khá lên
được. Họ ở trong những túp lều, trong khi người Atlantis giống da đỏ sống xa
hoa, với đủ đồ trang bị tự động do sức mạnh của quả cầu Pha-lê thu hút năng lực
của mặt trời phát ra. Người Atlantis có đầu óc sáng tạo, thích thí nghiệm tất cả
các loại khí (hơi), kim thạch, thảo mộc, và họ dùng những bàn-nhân để làm việc
nặng nhọc như khuân vác, vận chuyển, hoặc làm việc nhẹ như điều hành những công
tác dưới sự chỉ huy của người Atlantis.
Dẫn-dạo-sư
nói rằng những sinh linh (beings) từ ngoài không gian được hấp dẫn tới Atlantis
vì năng khiếu sáng tạo của những người ở đấy, và đã dành nhiều thì giờ đàm luận
với họ. Những quý khách không gian ấy đã giúp nhiều trong việc tạo nên Quả cầu
Pha-Lê vĩ đại. Nhờ sức mạnh lớn lao của Quả cầu ấy mà những máy bay, tàu nổi,
và tàu ngầm được duy chuyển với một tốc độ kinh khủng. Lúc đầu sức mạnh ấy được
dùng vào việc ích lợi chung, nhưng về sau lại dùng vào việc phá hoại.
Quả cầu vỉ đại!
cái lực lượng do việc thiện và việc ác mà Edgar Cayee đã nói đến, hiện nay còn
nằm sâu dưới Ðại Tây Dương khu Tam giác Bermuda, ở đấy đã có biết bao máy bay
và tàu biển biến mất một cách bí mật trong những thập niên gần đây.(Xem chương.
IX. biển Sargasso bí mật)
Những khách
không gian đã dạy cho người Atlantis đã tạc nên Quả cầu khổng lồ, sau khi họ đã
bắt đầu chinh phục được năng lực bằng những quả cầu nhỏ để điều khiển những đồ
trang bị. Trên một sườn đồi, họ tìm thấy một mạch đá thạch anh (quart) đủ lớn để
phản chiếu tất cả tia sáng của mặt trời và mặt trăng, vì mặt trăng cũng dự phần
vào cuộc thí nghiệm lớn lao ấy. Sau khi đã dục bỏ hết đất bám chung quanh,họ khắc
những mặt phẳng rất tỉ mỉ để phản chiếu tất cả các tia sáng. Thời bấy giờ bầu khí
quyển hoàn toàn trong sạch, nên tia sáng không bị thiên lệch. Vì họ sản xuất
năng lực thừa dùng hàng ngày, nên họ tìm cách tích trữ năng lực còn dư vào những
thùng lớn bằng đồng, để cho các máy bay và tàu không phải tùy thuộc vào sự cung
ứng năng lực mỗi ngày.
Những khách
không gian ấy đến trái đất bằng những phi thuyền tuyệt xảo. Có nhiều loại máy
bay khác nhau, phần lớn có những đĩa và những máy xoay tròn để không bị sức hút
của từ lực khi cất cánh và hạ cánh. Ðến nơi họ chuyển những vật liệu lấy ở trái
đất thành khí chất để làm ra điện lực. Những người Atlantis theo mẫu ấy đã sáng
chế ra những máy bay và tàu chuyển động bằng năng lực do Quả cầu vĩ đại phóng
ra.
Theo Dẫn-đạo-Sư,
vì có những thú vật khổng lồ càng ngày càng đông, nên người Atlantis đã phải tập
trung vào những khu có tường thành bao bọc, và nhu cầu đã thúc đẩy tài sáng tạo
của họ. Vì họ là dòng dõi những "linh hồn nhẹ hơn không khí", nên họ
còn giữ được khả năng giao tiếp với thế giới tâm linh và sáng tác ra những kỳ
quan mà thế giới chưa từng thấy.
Tại sao những
người không gian đến Atlantis mà không đến Lemura? Dẫn-đạo-Sư nói: Ðó là gì cái
lẽ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, cùng có óc sáng tạo như nhau thì dễ
gần nhau hơn.
Những khách
không gian và người Atlantis đã phải mất nhiều năm mới tạo nên Quả cầu khổng lồ,
và cái gương phản chiếu để chứa đựng quả cầu đó. Rồi họ sáng chế những tàu, máy
bay, cả loại máy đứng yên một chỗ trên không trung như máy trực thăng ngày nay.
Với những máy nầy họ đã học được địa đồ những vùng rộng lớn trên trái đất. Một
số họa đồ ấy được tìm thấy mấy trăm năm trước, cho thấy hình ảnh trái đất trước
lần đổi trục sau cùng, khi mà Nam-cực không có băng tuyết.
Những họa đồ
ấy đã được tìm thấy tại Thỗ-Nhĩ-Kỳ hồi đầu thế kỷ 18, là sở hữu của Ðề-đốc Thổ
Piri Reis. Ðó là bản sao họa đồ rất cổ, cho thấy những dãy núi ở Nam-cực trong
thời không có băng tuyết. Những nhà địa-dư học mãi đến năm 1952 dùng phương
pháp đo tiếng vang mới hình dung được những núi ấy. Ngày nay đem những hình chụp
từ vệ tinh so với bản địa đồ ấy thì thấy rất giống nhau.
Ðại học
Georgetown trong buổi phát thanh vô tuyến ngày 26-8-1956 bình luận về địa đồ
Reis, nói rằng nếu không dùng phương pháp chụp hình từ trên không trung thì
không thể nào họa được địa đồ ấy.
Trong cuốn
Edgar Cayee on Atlantis, chính con Edgar Cayee cũng có đề cập tới địa đồ ấy.
Chắc chắn rằng
chưa ai có thể bay được hồi đầu thế kỷ 18 khi địa đồ Reis được tìm thấy. Edgar
Cayee và các dẫn-đạo-sư đồng ý rằng những người Atlantis là những phi hành gia
đại tài.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét