Tác giả: BẠCH LIÊN
Mục Lục
Những bản Tâm Kinh chữ Phạn, chữ Anh và chữ
Pháp.
1 bản dịch chữ Pháp của Jean Marquès Rivière.
Phải chăng có nhiều bản Tâm Kinh và bản nào là
Bản Chánh hay là đáng tin cậy. Bản Tâm Kinh của ông Anh Trạch Sakurazawa. Theo
ý ông Anh Trạch thì Đức Quán Tự Tại Bồ Tát là ai ?
1.- Uẩn là gì ?
1.- Uẩn là gì ?
Ý nghĩa của chữ Khanda của Phât Giáo khác với
ý nghĩa chữ Skandha của Pắc Phạn.
Ngũ Uẩn trói buộc ai ? Ngũ Uẩn là ba Thể =
Thân, Vía, Trí của con người theo Huyền bí học. Ngũ Uẩn trói buộc cách nào ?
2.- Tại sao Ngũ Uẩn trống không ?
Nguyên tử Hồng trần vốn trống không. Điện là
gì ? Các vật cứng rắn vẫn trống không ?
Nguyên tử làm cái Vía và cái Trí vẫn trống
không.
Cội rễ của Vật chất hay là Hổn Nguơn Nhứt Khí.
Hổn Nguơn Nhứt Khí vẫn trống không mà lại cực
kỳ cứng rắn. Tỷ trọng của Hổn Nguơn Nhứt Khí. Một tấc khối của Hổn Nguơn Nhứt
Khí nặng 214 tỉ kilô.
Nguyên tử - Một bầu tiểu Vũ Trụ đầy sự huyền
diệu. Bài của Bác sĩ O’Brien.
3.- Vì cớ nào sắc bất dị không ?
a/ Sắc tức là Không ?
Không tức là Sắc ?
b/ Sắc chẳng khác Không – Không chẳng khác
Sắc, trúng có phân nửa.
2 chỗ trong Tâm Kinh – 2 chỗ trong cuốn Trung Luận. Tại
sao Thần Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Minh Chú – Vô Thượng Chú.
CHƯƠNG THỨ TƯ
CHƯƠNG THỨ TƯ
Vài lời nói đầu.
Bát Nhã Ba La Mật Đa
Tâm Kinh (Prajna Paramita Hridaya sutra) là tinh hoa (essence) của Bộ Kinh Bát
Nhã Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajna Paramita). Tôi xin nói liền không có chữ Maha
trước hai chữ Prajna Paramita.
Mà Bộ Bát Nhã Ba La
Mật Đa (Prajna Paramita) vốn thuộc về hệ thống Madhyamika, tức là con đường
Trung Đạo do Đức Long Thụ Nâgârjuna lập ra. Hệ thống Madhyamika là một trong
những triều lưu tư tưởng có những quan niệm về Tôn giáo và Triết học tân kỳ,
phát sanh từ Bắc Tôn.
Hệ thống Madhyamika
chủ trương thuyết Sunyata (Sun da ta) Bắc phạn có nghĩa là “Trống Không” (vide,
vacuité) 1. Tất cả quan niệm Sun da ta đều được giải bày tỉ mỉ
trong Bộ Trung Luận (Madhyamika Çastra) của Đức Long Thụ Nâgârjuna.
Thế nên tôi tưởng muốn
thật hiểu cái Trống Rỗng trong Tâm Kinh thì phải biết quan niệm Sun da ta trong
bộ Trung Luận.
Nếu chỉ có đọc “Tâm
kinh” thôi thì chưa đủ. Tâm Kinh chỉ nói phớt qua cái “Trống Không”
mà thôi.
Người ta thường gọi Hệ
thống Madhyamika là Tam Luận Tông bởi vì tất cả của hệ thống giáo lý này đều
chứa đựng trong ba cuốn sau đây :
1 – Trung Luận :
Madhyamika Çastra.
2 - Thập Nhị Môn Luận
: Dvadaça Çastra.
3 – Bát Nhã Ba La Mật
Đa Kinh Luận : Prajna Paramita Sutra Çastra.
Nhưng tôi xin lưu ý
quí bạn về điểm nầy. Con đường Trung Đạo của Đức Long Thụ Nâgârjuna khác hẳn
con đường “Trung Đạo hay là Đạo Bát Chánh của Phật đã dạy và còn khó hiểu hơn
nhiều lắm.
Thật ra có mấy ai biết
rằng khi hằng ngày mình tụng niệm Tâm Kinh thì mình đã theo phái Tam Luận Tông
Madhyamika mà không dè vô tình mình đã phủ nhận Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo rồi
chăng ?
Tuy nhiên mỗi vị Phật
tử có quyền tự do đi theo con đường của mình đã chọn lựa, nhưng thiết tưởng
không một ai có thể đi theo hai con đường một lượt được bao giờ, cũng như lời
tục đã nói “bắt cá hai tay”.
Luôn luôn tôi vẫn kính
trọng quyền tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của mỗi người.
Ở đây tôi chỉ trình
bày những điều tôi hiểu biết về Tâm Kinh, mong rằng chúng nó giúp ích được quí
bạn phần nào trong việc tìm hiểu Chơn lý Đại thừa như Đức Long Thụ đã nói trong
chương XXIV của quyển Trung Luận Madhyamika Çastra - chỉ có thế thôi.
-----------
Tinh hoa kinh Bát Nhã
Chơn lý ở đâu nào ?
Gội rửa lòng trong
sạch
Bồ Đề quả vị cao.
Viết xong tại Châu Đốc
ngày rằm tháng Tư âm lịch năm Ất Tỵ (15 Mai 1965) nhằm lễ Phật Đản năm 2509.
BẠCH LIÊN
CHƯƠNG THỨ NHỨT
VÁI LỜI VỀ TIỂU SỬ CỦA ĐỨC LONG THỤ NÂGÂRJUNA.
-+-+-+-+-
Trước khi bàn về Tâm
kinh tôi tưởng nên nói vài lời về tiểu sử của Đức Long Thụ Nâgârjuna vì hậu thế
cho Ngài là tác giả Bộ Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajna Paramita).
------------
Người ta không biết
nhiều về đời sống của Đức Long Thụ Nâgârjuna. Người ta tưởng Ngài sanh ra vào
lối cuối thế kỷ thứ hai 2 tức là năm 200 tại Vidarbha
(ngày nay là Bérar) thuộc về miền Nam Ấn Độ. Hiện giờ tại biên giới xứ Népal có
một cái động mà tục truyền rằng khi xưa Đức Long Thụ đã vào đó tu luyện nhiều
năm.
Ngài lập ra Hệ thống
Triết học Madhyamika tức là Trường Trung Đạo mà đời sau thường gọi là Tam Luận
Tông, tới bây giờ hãy còn bên Tây Tạng.
Những bộ sách trứ danh
của Ngài viết là :
1/ Madhyamika
Çastra = Trung Luận.
2/ Dvadaça Nikaya
Çastra = Thập Nhị Môn Luận.
3/ Prajna Paramita
Sutra Çastra = Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Luận.
4/ Vigarbha Vyavartani
= Hồi Tránh Luận dịch ra Pháp văn Pour écarter les vaines discussions, traduit
et annoté par Susumu Yamaguchi. (Extrait du Journal Asiatique Juillet Septembre
1929).
5/ Mahayana Vimçaka.
6/ Mahâcintyâ Çastra.
7/ Panca Krama, v.v. .
.
CÂU CHUYỆN ĐỨC LONG
THỤ ĐƯỢC LONG VƯƠNG
MỜI XUỐNG THỦY CUNG CÓ
THẬT HAY KHÔNG ?
Đức Long Thụ
(Nâgârjuna) là Tổ sư thứ 14 ở Ấn Độ. Ngài với hai vị nữa là : Aryadéva và
Asanga 3 , người ta gọi là ba ngôi sao sáng trong
Phật Giáo.
Tục truyền rằng Naga
Thần Rắn, Tàu gọi là Long Vương mời Đức Long Thụ Nâgârjuna xuống Thủy Cung
truyền dạy phép tắc và trao cho quyển kinh Bát Nhã – Bát Nhã Ba La Mật Đa !
Chuyện này có thật hay
không ? Mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng. Tôi tin rằng : lời nói đó bóng
dáng vì thật sự là dưới nước không có Long Cung mà cũng không có Long Vương,
cũng như dưới đất không có Thập Điện, không có Diêm Vương hay là Quỉ Sứ Dạ Xoa
chi cả.
Tuy nhiên ở dưới biển
hay là trong những sông rạch, ao hồ, khắp mọi nơi trên địa cầu đều có những
Tiểu Thần (Esprits de la nature) lo làm phận sự của họ dưới quyền chỉ huy trực
tiếp của các vị Thiên Thần cho đúng với Thiên Cơ. Họ không có liên lạc với con
người trên trần gian.
Ý NGHĨA CỦA DANH TỪ
RỒNG.
Từ ngàn xưa các nhà
Đạo đức đều biết Rồng hay Rắn là tượng trưng Đức Minh Triết và những vị đã được
Điểm đạo.
“Rồng Minh Triết”
(Dragon de Sagesse) là biểu tượng của Đức Thượng Đế. Nhưng người ta cũng dùng
danh từ “Rồng Minh Triết” (Dragon de Sagesse) để xưng tụng Đức Ngọc Đế và các
Đấng Thiên Tôn từ Kim Tinh (Vénus) xuống Trái Đất đặng giúp đỡ sự tiến hóa của
Nhân Loại, lúc phân nửa giống dân thứ ba, giống Lê Mu Ri Den (Lémuriens)
mới ra đời, kể ra 16 triệu rưởi năm rồi.
Biểu tượng con Rồng
truyền tới muôn đời sau.
Thuở xưa các vị giáo
sĩ ở Ba bi lôn (Babylone : Ba Tỷ Luân), ở Ai Cập, những vị Tế Sư (Druides) ở
nước Pháp cổ thời là xứ Gaule, những nhà tu hành Phê Ni Xien (Phéniciens) . . .
đều gọi mình là dòng giống của những Rồng hay là những Rắn, tức là đệ tử của
những vị đã được Điểm đạo, hay là Nhân viên của Quần Tiên Hội (Fraternité
Blanche , Fraternité des Adeptes).
Hiện giờ tại Mễ Tây Cơ
(Mexique) và nhiều bộ lạc, nhứt là bên Nam Mỹ Châu người ta còn gặp di tích của
Biểu Tượng con Rồng, bởi vì Biểu Tượng này là một trong những Biểu Tượng Đại
Đồng ám chỉ những vị Thánh Sư đầu tiên của Nhân Loại.
Như vậy ta không lấy
làm lạ mà thấy chuyện Tàu nói các vị Hoàng Đế Trung Nguyên thuở xưa là Thiên Tử
(con của Trời) tướng tinh của các Ngài là những Rồng Vàng (Huỳnh Long) và tất
cả chúng ta quen thuộc với những danh từ Long Thể, Long Tu, Long Cổn, Long Bào,
Long Nhan, Long Án, Long Sàng, Long Xa v.v. . .
Nhưng sự thật là có
Rồng Ở Đâu mà đi đầu thai làm người.
QUÂN KỲ
CỦA MỘT BỘ LẠC CỦA GIỐNG DÂN TÔN TÉC (Toltèque).
Giống Tôn Téc
(Toltèque) là nhánh thứ Ba của giống Ắt Lăn (Atlantes). Giống Ắt Lăn là tổ tiên
giống da đỏ và da vàng bây giờ.
Thuở xưa có một bộ lạc
của giống Tôn Téc khi ra trận thì vác một cái cán có một con rắn bằng vàng quấn
chung quanh; ấy là Quân kỳ của họ.
Người A Ri Den (Aryen)
tổ tiên của giống da trắng bây giờ gọi họ là bộ lạc Rắn (Naga). Vịn theo những
lý lẽ trên đây, chúng ta có thể nói rằng : Cuốn Bát Nhã Ba La Mật Đa vốn của
những vị đắc đạo ở châu Ắt Lăn Tích (Atlantide) thuở xưa . . . truyền lại cho
Đức Long Thụ Nâgârjuna. Nếu quả thật như vậy thì cuốn kinh này viết bằng chữ Ắt
Lăn (Atlantes) và Đức Long Thụ Nâgârjuna dịch ra chữ Phạn vì Ngài có học chữ Ắt
Lăn.
Nhưng đây chỉ là một
giả thuyết thôi.
Bây giờ xin nói về Bát
Nhã Ba La Mật Đa.
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
LÀ GÌ ?
Trước hết ta phải hiểu
nghĩa hai chữ Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa.
Bát Nhã Ba La Mật Đa
vốn do hai chữ Prajna Paramita âm ra. Đứng riêng từng chữ :
Prajna có nghĩa là Trí huệ (Sagesse).
Paramita (Bắc Phạn) có nghĩa là Đức tánh (vertus). Còn
theo Nam Phạn là Parami, và có nghĩa là Hoàn thiện (perfection); hai nghĩa khác
nhau rất xa. Nhập lại thì ra chữ Prajna Paramita có hai nghĩa :
Một là : Trí huệ cao
siêu tột bực, toàn giác. (Sagesse parfaite).
Hai là : Trí huệ
đưa qua tới bờ bên kia (Sagesse permettant d’ atteindre l’autre rive).
CUỐN BÁT NHÃ BA LA MẬT
ĐA DẠY CÁI CHI ?
Cuốn Bát Nhã Ba La Mật
Đa (Prajna Paramita) giải về Paramartha Satya.
Paramartha nghĩa là
Chơn lý (Vérité).
Satya : Chơn thật
(Vraie).
Tức là Chơn thật tuyệt
đối. Tàu dịch là Thắng nghĩa đế.
Nó cũng có nghĩa là :
Tâm thức của Hiền nhân giúp Ngài thắng phục được ảo ảnh (Conscience du Sagesse
qui lui permet de vaincre l’illusion).
Trong Tâm Kinh đoạn ba
có câu : … Vượt qua những ảo ảnh sai lầm, Ngài đạt được cảnh Niết Bàn cùng tột
(…allant au delà des visions non réelles et perverties, il atteint le
Nirvan final). Bản dịch của ông Jean Marquès Rivière.
BỜ BÊN KIA LÀ BỜ NÀO ?
Đây là lời nói bóng
dáng. Người ta thí dụ : bờ bên này là cõi Trần, chỗ sanh sống của những người
còn mắc vào vòng Luân hồi nghiệp chướng. Bờ bên kia là cõi Niết Bàn, trường
tiến hóa của những vị Siêu phàm nhập thánh. Chính giữa bờ bên này và bờ bên kia
là một con sông, ấy là đường Đạo. Người đệ tử bước vào cửa Đạo cũng như bước
xuống thuyền qua sông, anh không còn thuộc về cõi Trần nữa. Khi qua đến bờ bên
kia, anh đã thành chánh quả làm một vị Siêu phàm được giải thoát, không còn cái
chi học hỏi trên Dãy Địa Cầu này.
Khi Điểm đạo lần thứ
nhứt cho thí sanh, Đức Bồ Tát có nói câu này với anh : “Con đã vào dòng sông
(nhập lưu), chúc con mau tới Bến” (Tu es entré dans le courant, puisses tu
bientôt atteindre l’autre rive).
BA BẢN CỦA BỘ BÁT NHÃ
BA LA MẬT ĐA
(PRAJNA PARAMITA
ÇASTRA)
Cuốn Bát Nhã Ba La Mật
Đa (Prajna Paramita Çastra) in ra làm 3 bản :
1- Một
bản đầy đủ gồm 200.000 slokas - Thất Lộ Ca Câu kệ.
2- Một
bản bực trung gồm 10.000 slokas - Thất Lộ Ca.
PRAJNA PARAMITA
HRIDAYA SUTRA LÀ GÌ ?
Hridaya : essence –
nghĩa là Tinh hoa.
Prajna Paramita
Hridaya Sutra là Tinh hoa của cuốn Kinh Prajna Paramita Hridaya – (Bát Nhã Ba
La Mật Đa) Tàu dịch là Tâm Kinh, chớ không phải cuốn Kinh giải về cái Tâm.
BẢN DỊCH CHỮ HÁN.
Ông Lệ Thần Trần Trọng
Kim có nói trong cuốn Phật Giáo của ông như vầy:
“Kinh này do chữ Phạn
dịch ra chữ Nho, có tất cả đến 7 bản nhưng chỉ có bản này của ông Trần Huyền
Trang đời Đường dịch ra là thông hành hơn cả trong tăng giới bên Phật Giáo Đại
Thặng.
DỊCH ÂM
Quán Tự Tại Bồ Tát,
hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất
thiết khổ ách.
Xá lị Tử ! sắc bất dị
không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thụ, tưởng,
hành, thức, diệc phục như thị.
Xá lị Tử ! thị chư
pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
Thị cố không trung vô
sắc, vô thụ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý; vô sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô Vô minh,
diệt Vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệt vô lão tử tận, vô Khổ, Tập, Diệt,
Đạo; vô trí, diệt vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề
Tát đỏa, y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô (khuê) quái ngại vô quái ngại cố, vô
hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn.
Tam Thế Chư Phật, y
Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu đa la tam niêu tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba
La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng
đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư.
Cố thuyết Bát Nhã Ba
La Mật Đa chú. Tức thuyết chú viết : Yết đế, yết đế, Ba La yết đế, Ba La tăng
yết đế , Bồ Đề tát bà ha.
NHỮNG CHỖ
SAI BIỆT TRONG CÁC BẢN CHÉP RA.
A) Vài
bản chữ Việt chép : Vô Trí diệc vô đắc (chấm câu) Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát
đỏa . . .
Trong cuốn Kinh ! !
Phổ Môn Diễn Nghĩa ! ! , không thấy tên tác giả chép :
Huờn Kinh.
Bổ Khuyết Tâm
Kinh 4
Vô trí diệc vô đắc, dĩ
vô sở đắc cố,.(chấm câu)
Bồ đề tát đỏa. . .
Còn trong bản chữ Pháp
của ông Marquès Rivière là : ni quelque chose à obtenir, car rien ne peut être
obtenu. Chấm câu sau chữ “Obtenu” Le Bodhisatva qui . . .
Thế thì chấm câu sau
chữ “đắc” ( Vô trí diệc vô đắc) là sai, còn chấm câu sau chữ “cố”, dĩ vô
sở đắc cố, mới đúng, bởi vì bản dịch ra Việt văn, bản chữ Nho của Đại Đức Trần
Huyền Trang là : . . . không trí huệ, không chứng đắc vì không có cái chi chứng
đắc. (Chấm câu sau chữ “đắc” . . . thật là đúng với bản dịch chữ Pháp).
B) Ba chữ The Deep
Prajna Paramita, tức là Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm : la profonde Prajna
Paramita.
Tàu dịch là : Thâm Bát
Nhã Ba La Mật Đa rất đúng.
Hành thâm Bát Nhã Ba
La Mật Đa có nghĩa là thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm, chớ
không thật hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa.
MỘT NGHI VẤN TRONG BẢN
KINH CHỮ NHO VÀ CHỮ PHÁP.
Đức Bodhisatva
Avalokiteshvara là ai ?
Trước khi bàn đến nội
dung của Tâm Kinh, tôi xin nêu ra một nghi vấn.
Đức Bodhisatva
Avalokiteshvara là ai ?
Câu đầu của Tâm Kinh
có ý nghĩa như vầy :
Đức Bodhisatva
Avalokiteshvara , Quán Tự Tại Bồ Tát , sau khi thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật
Đa cao thâm thì thấy Ngũ Uẩn vốn trống rỗng, nhờ như vậy Ngài mới dứt được các
sự đau khổ của Ngài.
Nó ám chỉ : Trước kia
Đức Bodhisatva Avalokiteshvara, Quán Tự Tại Bồ Tát cũng vô minh như chúng ta.
Ngài đã mang đủ các phiền não. Nhưng sau khi thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật
Đa cao thâm rồi thì thấy Ngũ Uẩn không có gì hết, chúng là con số không. Thế nên
Ngài dứt các chướng ngại. Ngài không còn đau khổ như trước nữa.
Vậy thì ta phải tự hỏi
: Phải chăng Đức Bodhisatva Avalokiteshvara cũng là phàm phu tục tử như chúng
ta vậy ? Bởi vì trước khi thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm thì Ngài
không biết Ngũ Uẩn trống không. Rõ ràng câu đầu của Tâm Kinh nói như vậy.
Bây giờ ta nên tìm
hiểu nghĩa của hai chữ : Bodhisatva Avalokiteshvara.
Đứng riêng ra từ chữ
thì :
- Bodhisatva có nghĩa
là Đấng Chí Tôn còn một bậc nữa thì thành Phật, tức là Đức Bồ Tát.
- Còn Avalokiteshvara
chữ Sanscrit Bắc Phạn có nghĩa là : Le Seigneur voyant : Đức Thượng Đế
thấy tất cả, tức là Đức Vishnou. Các nhà thông thái Tây phương dịch
như vầy :
Avalokitshvara : Le
Seigneur qui regarde audessous de lui : Đức Thượng Đế dòm xuống ở phía dưới Ngài.
Vì vậy Tàu mới dịch là
Quán Tự Tại, tức là chỗ nào cũng thấy cả; đó là riêng từ chữ, còn hai chữ nhập
lại Bodhisatva Avalokiteshvara thì không biết có từ điển nào ở Ấn Độ cắt nghĩa
chăng, chớ danh từ này vốn quen thuộc với Phật Giáo ở Tây Tạng.
Ý NGHĨA CỦA BODHISATVA
AVALOKITESHVARA
THEO PHẬT GIÁO TÂY
TẠNG.
Trong bài “ Phật Giáo
Tây Tạng” (Le Boudhisme au Tibet) tác giả là Serge de Feularde đăng trong Thanh
Liên tạp chí (Lotus bleu số 3 tháng 5 năm 1927- Mai 1927), trang 90 có một đoạn
nói về Bodhisatva Avalokiteshvara như sau đây :
«... UNE secte du Népal celle des Aiçvarikas,
outsectateurs d'Içvara enseigne l'existence d'un Bouddha primordial, éternel, immuable,
essence de toute lumière, de toute intelligence et de toute vie. Adi Bouddha
était calqué en quelque sorte sur le Brahman des Indous. Comme Brahman, it
n'est pas créateur, mais il émane l'univers de sa propre substance pour le réabsorber après une période
mondiale. De sa méditation, naissent cinq créatures sublimes, les Dhyani
Boudhas, essence des cinq Vertus Bouddhiques.
1) Vairotchana
2) Akohobya
3) Ratna
Shambhava
4) Amitabha
5) Amogashidha.
A ces cinq Dhyani Bouddhas est confiée la protection spirituelle de l'univers.
Ils inspirent les Bouddhas qui vivent dans les différents mondes, et qui
enseignent les hommes et les dieux.
Ils
confient la surveillance matérielle du monde à leurs fils spirituels nés de leur méditation; les Dhyani Bodhisatvas. Ce sont:
1) Samanthabhadra
2) Vajrapâni
3) Ratnapâni
4) Avalokiteshvara
5) Viçvapâni
Chacun
de ces Dhyani Bodhisatvas à la charge de veiller sur une partie déterminée du monde, pendant une période donnée. Ainsi
Avalokiteshvara s'occupe
particulièrement du monde actuel.
A chacun de ces Bodhisatvas correspond un Manushi Bouddha ou Bouddha humain.
Celui qui appartient à notre période actuelle est le Bouddha Sakya muni. Cinq
mille ans après le Nirvana de ce dernier, apparaitra
un nouveau Bouddha qui viendra instruire les hommes. C'est le Bodhisatva Maîtreya qui attend au ciel Tushita que
l'heure ait sonné de descendre sur notre terre et d'atteindre à son tour l'état
de Bouddha parfait.
Serge
de Feular
Le
Lotus Bleu N° 3 / Mai /193
XIN DỊCH RA.
. . . một giáo phái
Bắc Tôn ở Nê Bôn (Népal) gọi là giáo phái Içvara dạy rằng có một vị Phật đầu
tiên, vĩnh cữu, trường tồn, bất biến, bản thể của tất cả sự sáng, của tất cả
trí tuệ, của tất cả sự sống.
Đức Phật “Adi
Bouddha” 5 vốn mô phỏng theo Đức Brahman của người Ấn.
Cũng như Brahman, Ngài không phải là Đấng Tạo hóa, nhưng Ngài phóng xuất vũ trụ
với bản chất của Ngài, rồi khi hết một Đại kiếp thì Ngài thu hồi vũ trụ vô mình
Ngài như trước.
Trong lúc Ngài ngồi
tham thiền, Ngài sanh ra năm Đấng Cao Cả, ấy là những (Đi da ni) Thiền Na Phật
(Dhyani Bouddhas) Tinh hoa của năm Phật tánh 6.
Năm vị Thiền Na Phật
là :
1- Vairotchana : Tàu
dịch là ĐẠI NHẬT NHƯ LAI ở Trung Ương.
2-
Akohobya 7: BẤT ĐỘNG NHƯ LAI ở Đông phương.
3- Ratna Shambhava :
BẢO SANH PHẬT ở Nam phương.
4-
Amitabha 8 : A DI ĐÀ PHẬT ở Nam phương.
5-
Amogashidha 9 : BẤT KHÔNG THÀNH TỰU PHẬT ở Bắc
phương.
Năm vị Thiền Na Phật
(Đi da ni) được giao phó sứ mạng bảo vệ đời sống tinh thần của Vũ trụ. Các Ngài
linh cảm những vị Phật đang sống trong những thế giới khác nhau và đang giáo
hóa con người và Thiên thần.
Năm vị Đi da ni Phật
giao trọng trách chăm nom đời sống vật chất của thế gian cho năm người con tinh
thần của các Ngài do sự tham thiền của các Ngài mà sanh ra. Ấy là năm vị Thiền
Na Bồ Tát (Đi da ni Bồ Tát : Dhyanis Bodhisatva) tên là :
1- Samanthabhadra
: Tàu dịch là : PHỔ HIỀN BỒ TÁT.
2- Vajrapâni
: KIM CƯƠNG THỦ BỒ TÁT.
3- Ratnapâni
: BẢO THỦ BỒ TÁT.
4- Avalokiteshvara
: QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT hay QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT.
5- Viçvapâni
: có chỗ đề MANJUCRI BODHISATVA, tức là VĂN THÙ BỒ TÁT.
Mỗi vị Thiền Na Bồ Tát
có trách nhiệm coi sóc một lãnh vực nhứt định của Thế giới trong một kỳ gian.
Vì thế, Đức Avalokiteshvara đang đặc biệt lo lắng cho cõi đời hiện tại nầy. Mỗi
vị Thiền Na Bồ Tát đều có một vị Phật tại thế đối chiếu gọi là Ma Nu Si Phật
(Manushi Bouddha) hay là Bouddha humain, vị Phật còn giữ xác phàm. Vị Phật đang
ở trong thời kỳ hiện tại của chúng ta là Đức Thích Ca Mâu Ni – 5000 năm sau khi
Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn thì sẽ có một vị Phật mới ra đời đặng dạy dỗ
con người. Ấy là Đức Bồ Tát Maîtreya (Đức Di Lạc). Ngài đang ở tại cõi trời Đâu
Xuất (Tushita) chờ đợi đúng ngày giờ thì Ngài giáng phàm và tới phiên Ngài,
Ngài sẽ đắc quả Phật.
--------------
Nghi vấn của tôi nêu
ra là : Đức Bodhisattva Avalokiteshvara Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh
là ai ?
Ngài có phải là Đức Đi
Da Ni (Dhyani) Bodhisattva, Thiền Na Bồ Tát gọi là Bodhisattva
Avalokiteshvara nói ở trong bài “Phật Giáo Tây Tạng” không ?
Nếu phải thì câu đầu
của Tâm Kinh rất vô lý bởi vì Đức Bodhisattva Avalokiteshvara , Quán Tự Tại Bồ
Tát vốn do sự tham thiền của Đức Đi Da Ni Thiền Na Phật (Dhyani Bouddha)
Amitabha A Di Đà mà sanh ra. Ngài hoàn toàn sáng suốt và có đủ những
quyền năng phi thường mới điều khiển sự tiến hóa của cõi đời vật chất nầy được.
Ngài có trách nhiệm đặc biệt chăm nom cõi đời hiện tại của chúng ta đây. Cho
đến đỗi Đức Phật Thích Ca cũng chưa sánh kịp với Ngài nữa.
Ngài có mang cái xác
phàm nặng trịu này đâu mà cần phải thật hành Bát Nhã Ba La Mật Đa mới biết được
Ngũ Uẩn trống không.
Còn như không phải,
thì Bodhisattva Avalokiteshvara, Đức Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh là vị
nào ?
Nói cho đúng lý, Đức
Bodhisattva Avalokiteshvara, Quán Tự Tại Bồ Tát trong Tâm Kinh phải là một
người thường như chúng ta : nhưng sao có việc kỳ lạ là mang tên của một vị Đi
Da Ni Thiền Na Bồ Tát, một Đấng Thiên Tôn còn cao hơn Đức Phật Thích Ca
nữa.
CHƯƠNG THỨ NHÌ
Những bản Tâm Kinh chữ
Phạn, chữ Anh và chữ Pháp.
Trong chương thứ
Nhì có tất cả sáu bản Tâm Kinh.
- Một bản Tâm Kinh chữ
Phạn của Ziogon - Tịnh Nghiêm, chép ra năm 1694, có bản dịch chữ Anh, tiềng Tàu
và tiếng Nhật âm ra.
- Hai bản Tâm Kinh chữ
Phạn : Bản ngắn và Bản dài do hai nhà sư : Kanamatsu = Kim Tùng, và Ôta =
Đại Điền chép ra năm 1880.
- Một bản chữ Phạn –
Prajna Paramita Hridaya Sutra. Sanscrit text of Hridaya Sutra.
- Một bản dịch chữ
Pháp của ông Jean Marquès Rivière.
- Một bản dịch chữ
Pháp của hai vị Tỳ kheo Vai Tae và Bác sĩ Dr Dwight Goddard.
Bản Tâm Kinh của
Ziogon và hai bản : bản ngắn và bản dài của hai nhà sư Kim Tùng và Đại Điền vốn
chép lại trong quyển Anecdota Oxoniensia Aryan Series, volume I, part 1 pp 6-7
do quí ông Max Muller và Bunyia Manjio phát hành. Chúng nó là những tài liệu in
lại do những thư viện Boldleian và Oxford cung cấp.
Hai bản dịch : bản dài
và bản ngắn Tâm Kinh cũng có trong “Sacred Books of the East – volume 49, pp
147-154.
Tôi chỉ tiếc là chưa
tìm lại được bản dịch Tâm Kinh chữ Anh của Shaku Hannya 10 mà
ông J. Marquès Rivière đã nói trong bản dịch tiếng Pháp của ông; bên Pháp và
bên Ấn không có.
(Từ trang 23 theo
sách, ghi chú để tiện việc xem lạị mà thôi)
THE
TWO TEXTS OF
THE PRAGNA
- PARAMITA-HRIDAYA SUTRA..
Although
the interest of the documents published in the preceding pages is purely archaeological, and, to a certain extent,
historical, it may be useful to add here a translation of the two texts, the
smaller and larger, of the Pragna-paramita-hridaya
sutra.The smaller is an abstract of the larger, but even the larger text is only a very short epitome of the doctrines
developed in the Pragnaparamita,and there fore hardly to be rendered
intelligible by means of a translation,
PRAGNA-PARAMITA-HRIDAYA.
SUTRA.
SHORTER
TEXT RESTORED
Adoration to the Omniscient ;
The venerable Bodhisattva Avalokitesvara,
performing his study in the deep
Pragnapiramita (perfection
of wisdom),
thought thus “There are the five Skandhas, and these he considered as by their
nature empty (phenomanal).
“ O Sarputra,
he said, " form here is emptiness, and emptiness indeed is form.
Emptiness is not different from form, form is not different from emptiness.
What is form that is emptiness. What is emptiness that is form."
«
The same applies to perception, name, conception, and
knowledge.»
« Here, O Sâriputra,
all things have the character of emptiness, they have no beginning, no
end, they are faultless and not faultless, they are not imperfect and
not perfect. Therefore,
0 Sâriputra, in this emptiness there is no form, no perception, no name, no
concepts,no
knowledge. No eye, ear, nose, tongue, body mind. No form, sound, smell, taste, touch, objects,”.
There
is no eye », etc. . . till we come to
«there is no mind »., (What is left cut here are the eighteen Dhâtus or aggregates, viz. eye, form, vision; ear, sound,
hearing; nose, odour, smelling; tongue, flavour, tasting ; body,
touch, feeling, mind, objects, thought),
«There is no
knowledge, no ignorance, no destruction of knowledge, no destruction of
ignorance, etc., till we come to, there is no decay and death, no destruction
of decay and death; there are not (the four truths, viz. that there) is pain, origin
of pain, stoppage of pain, and the path to it. There.is
no knowledge, no obtaining (of Nirvana !)
,
« A man who has approached
the Pragnâparamita
of the Bodhisattva dwells enveloped
in consciousness (i).But
when the envelopment of consciousness has been annihilated then he becomes free of all fear, beyond
the teach of change, enjoying final Nirvâna ».
“ A Buddhas of the past, present, and future, after approaching the
Pragnâpâramitâ, have awoke to the highest perfect knowledge ".
“Therefore one ought to know the great verse
of the Pragnâpâramitâ, the verse of the great wisdom; the unsurpassed
vese, the peerless verse, which appeases all pain - it is truth, because it is not false
— the verse proclaimed in the Pragnâpâramita : 0 wisdom, gone, gone, gone to
the other shore, landed at the other shore, Svâhâ ! "
Thus
ends the heart or the Pragnâpâramita .
PRAGNÂ
PÂRAMITÂ – HRIDAYA - SUTRA.
LARGER
TEXT RESTORED.
A copy of this fuller text was sent to me from Japan by two young priests,
Kanematsu and Ota (see Anecdota Oxoniensia, Aryan Series, vol. i, part i, pp. 6-7) and
received at Oxford the 7th of October, 1880. It is the copy of a copy, preserved at a
large monastery, generally called Hasedera, of the Shingon sect at Hase in
Yamato, and contains, besides the text. a Chinese translation and transliteration made,
during the Thang dynasty, by an Indian priest, called Pragna, of Kipin or
Cabul, who also translated a chapter of the Buddhâvatamsakavaipulyasutra, A.D. 796-798. The original is believed
to have been brought from China by a Japanese priest, Yeun, one of the ten great disciples of Kukai (died
A.D. 835, the founder of the Shingon sect in Japan, and was preserved among the
treasures in a monastery called Shio kiin, on the mountain Kôya, in the
province of Kii. The copy is now deposited in the. Bodician Library ; see Cat.
Bodl. Japan., No, 63. I quote it as ).
Nearly the same text is also to be found In the Chinese Collection of
Sanskrit Texts, under the title of
Aryapankavimsatikâ-Bhagavati-Pragnâpâramitâhridayam, I quote it as W,
MAX
MULLER,
PRAGNÂ – PÂRAMITÂ –
HRIDAYA SUTRA
TRANSLATION
OF THE LARGER
PRAGNÂ
PÂRAMITÂ
Adoration to the Omniscient
!
This I heard. At one time the Bhagavat dwelt at Râgagriha, on the hill
Gridhrakuta,
together with a large number of Bhikshus and a large number of Bodhisattvas.
At
that time the Bhagavat was absorbed in a meditation, called Gambbirâvasambodha. And at the same time the great Bodhisattva
Aryâvalokitesvara, performing
his study
in the deep Pragnâpâramita, thought thus; “There are the five Skandhas, and those he
considered as something by their nature empty”.
Then
the venerable Sâriputra,
throught
Buddha’s power,
thus spoke to the Bodhisattva Aryâvalokitesvara : "If the son or daughter of a family wishes to
perform the
study in the deep Pragnâpâramita, how is he to be taught ?”.
On this the great Bodhisattva
Aryâvalokitesvara thus spoke to ihe venerable
Sâriputra : "If the son
or a family wish
to perform the study in the deep Pragnâpâramita, he must think thus :
There are five
Skandhas,and these he considered as by their nature empty.
Form is emptiness, and emptiness indeed is form. Emptiness is not different
from form, form is not different from emptiness. What is form that is
emptiness, what is emptiness that is form. Thus perception, name, conception,
and knowledge also are emptiness. Thus, 0 Sâriputra, all things have the
character of emptiness, they have no beginning, no end, they are faultless, and not faultless they are not imperfect and not perfect. Therefore, 0
Sâriputra,
here in this emptiness there is no form, no perception, no name, no
concepts, no knowledge. No eye, ear, nose, tongue, body, and mind. No form,
sound, smell, taste, touch, and objects. There is no eye, etc..., till we come
to there is no mind, no objects, no mind-knowledge. There is no knowledge, no
ignorance, no destruction (of ignorance), till we come to there is no decay and death, no
destruction of decay and death ; there are not (the four truths, viz) that there is pain, origin of
pain, stoppage of pain, and the path to it. There is no knowledge, no obtaining,
not obtaining of
Nirvana. Therefore, 0 Sâriputra, as there is no obtaining (of Nirvana), a man who has
approached the Pragnâpâramita
of the Bodhisattvas, dwells (for a time) enveloped in consciousness. But when
the envelopment of consciousness, has been annihilated, then he becomes
free of all fear, beyond the reach of change, enjoying final Nirvâna.
All
Buddhas of the past, present, and future after approaching the Pragnâpâramitâ,
have awoke to the highest perfect knowledge.
Therefore
we ought to know the great verse of the Pragnâpâramitâ, the verse of
the great wisdom, the unsurpassed verse, the verse which appeases all pain - it is truth, because it
is not false (i),—the verse proclaimed in the Pragnâpâramitâ (2) ; “0 wisdom, gone, gone, gone to the other
shore, landed at the other shore, Svâhâ ! ".
Thus,
0 Sâriputra, should a Bodhisattva teach in the study of the deep
Pragnâpâramitâ (3).
Then when the Bhagavat had risen from that
meditation, he gave his approval to the venerable Bodhisattva Avalokitesvara,
saying.Well
done, well done, noble son ! So it is, noble son. So indeed must this study of the deep
Pragnâpâramitâ
be performed. As it has been described by thee, it is applauded by Arhat Tathâgatas”. Thus spoke Bhagavat
with joyful mind. And the venerable Sâriputra, and the honourable Bodhisattva
Avalokitesvara, and the whole assembly, and the world of gods, men, demons, and fairies praised the speech of the Bhagavat
HAI BẢN BÁT NHÃ BA LA
MẬT ĐA TÂM KINH.
Hai bản Prajna
Paramita Hridaya Sutra.
Tuy rằng những tài
liệu được công bố ở những trang trên đây chỉ có một giá trị khảo cổ và lịch sử,
nếu ta để thêm vào đó bản dịch của cả hai bản nguyên văn thì đó cũng là việc có
ích. Hai bài dịch này một dài, một ngắn của bài Bát Nhã Ba La Mật. Bài ngắn là
một đoạn trích của bài dài. Bài dài cũng là một đoạn trích của những lý đạo
được nói dài dòng trong Bát Nhã Ba La Mật. Cho nên dù có mang ra dịch cũng
không sao hiểu nổi.
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
TÂM KINH.
(bản ngắn hiệu khảo)
Nam Mô Nhứt Thiết Trí
!
Khi Đức Bồ Tát Quán Tự
Tại thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm thì toàn giác. Ngài suy nghĩ
như vầy : Có năm Uẩn (Skandhas) và bản tánh của chúng đều trống không (về hiện
tượng),
Ngài bảo : Nầy Xá Lợi
Tử, sắc là không, không là sắc. Không chẳng khác sắc, mà sắc cũng chẳng khác
không. Cái gì là sắc, đó là không; cái gì là không đó là sắc. Cảm giác, tư
tưởng, hành vi và trí thức (thọ, tưởng, hành, thức) cũng y như vậy.
Nầy Xá Lợi Tử, bản
tánh của vạn vật thảy đều trống không, chẳng có chỗ khởi đầu, cũng chẳng có chỗ
cuối cùng (vô thủy vô chung), chẳng có chỗ nhơ bợn, cũng chẳng có cái gì chẳng
bợn nhơ. Chẳng có cái vẹn toàn, cũng chẳng có cái chẳng vẹn toàn. Nầy Xá Lợi
Tử, vì vậy mà trong cái không này chằng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chẳng
có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chẳng có sắc tướng, âm thanh, hương vị, xúc
giác, cảnh vật (pháp).
Chẳng có mắt v.
v . . . cho đến chẳng có ý . . . (chỗ này bỏ bớt 18 Giới hay Uẩn (Dahatus or
aggregates) nghĩa là : nhãn căn, sắc trần, nhãn thức, nhĩ căn, thinh trần, nhĩ
thức, tỹ căn, hương trần, tỹ thức, thiệt căn, vị trần, thiệt thức, thân căn,
xúc trần, thân thức, ý căn, cảnh trần, ý thức).
Chẳng có trí huệ,
chẳng có vô minh, chẳng có hết trí huệ, chẳng có hết vô minh v.v. . . cho đến .
. . chẳng có già chết, chẳng có hết già chết, chẳng có Khổ, Tập, Diệt, Đạo,
(bốn chơn lý). Chẳng có trí huệ, chẳng có chứng đắc (Niết Bàn).
Một người nương vào
Bát Nhã Ba La Mật của Đức Bồ Tát mà tâm bị trói buộc. Nhưng khi tâm hết bị trói
buộc thì người ấy thoát khỏi mọi sự khiếp sợ, xa lìa vọng tưởng và đạt được cứu
cánh Niết Bàn.
Các Đức Phật từ đời
trước đến đời nầy và đời sau, nhờ Bát Nhã Ba La Mật mà đắc quả vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
Bởi vậy mọi người cần
biết đại thần chú Bát Nhã Ba La Mật là thần chú của đại trí huệ, cao siêu hơn
các chú khác, là thần chú vô song, có năng lực làm thuyên giảm mọi đau khổ -
điều nầy có thật chớ không huyễn hoặc - thần chú Bát Nhã Ba La Mật đọc như vầy
: Hỡi Trí Huệ, đi, đi, đi qua bên kia bờ, qua tới bờ bên kia. Ta bà ha !
Nơi đây chấm dứt bản
Tâm Kinh Bát Nhã Ba La Mật.
(Bản dịch của Đạo hữu F.M.)
-------------
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
TÂM KINH.
BẢN
DÀI TÁI LẬP.
Một bản kinh nầy đầy
đủ hơn từ Nhật Bản gởi đến cho tôi do hai nhà sư trẻ : Kanematsu và Ôta (coi
sách Anecdota Oxoniensia, Aryan Series, vol.1, part1, pp 6-7). Tôi nhận được ở
Oxford ngày 7 tháng 10 năm 1880. Đó là bản sao của một bản sao được giữ trong
một tu viện rộng lớn, thường được gọi là Hasedera, ở môn phái Shingon, miền
Hase, tỉnh Yamato. Ngoài bản kinh chánh còn một bản dịch chữ Tàu và một bản
dịch âm, làm hồi đời Thang, do một nhà sư Ấn Độ tên là Pragna, tỉnh Kipiri hay
Cabul, ông này cũng dịch một chương kinh Buddhâvatam sakavaipulyasutra, A.D.
796 – 798. Người ta tin rằng bản chánh được mang từ nước Tàu do một nhà sư Nhật
tên Yeun, một trong 10 vị đệ tử lớn của Kukai (thác năm A.D. 835), vị sáng lập
ra môn phái Shingon sect in Japan, và được giữ trong kho tàng của một tu viện
tên là Shio Kiin, trên núi Koya ở tỉnh Kii. Bản dịch nầy để trong thư viện
Bodleian (đọc catalogue Bodl, Nhật Bản, số 63. Tôi trích trong đó). Dường như
bản kinh nầy cũng có trong cuốn
Aryapankarimsatikâ-Bhagavati-Pragnâpâramitâhridayam, một cuốn sách Tàu chứa
đựng những bản kinh chữ Phạn. Tôi trích trong đó : W.Max Muller.
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
TÂM KINH.
(Bản kinh dài Bát Nhã
Ba La Mật Đa)
Nam Mô Nhứt Thiết Trí
!
Tôi nghe như vầy : Một
thuở nọ, Đức Thế Tôn ngụ tại thành Vương Xá (Ragariha) trên non Linh Thứu
(Gridhrakuta) cùng với một số đông hàng Tỳ kheo (Bhikshus) và một số đông chư
vị Bồ Tát (Bodhisattvas).
Khi ấy Đức Thế Tôn
đang đại định tức là nhập thâm diệu Tam bồ đề (Gambhiravasambodha), đồng thời
Đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát cũng thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm
(Deep Prajna paramita). Ngài suy nghĩ như vầy : Có năm Uẩn (Skandhas) và bản
tánh của chúng đều trống không (về hiện tượng).
Bấy giờ nhờ oai lực
của Đức Phật, Tôn giả Xá Lợi Tử bạch với Đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát rằng :
Nếu có thiện nam, tín nữ nào muốn tu học theo pháp môn Bát Nhã Ba La Mật cao
thâm thì phải tu học như thế nào ?
Nhơn đó, Đức Thánh
Quán Tự Tại Bồ Tát mới bảo Tôn giả Xá Lợi Tử : Nếu thiện nam, tín nử nào muốn
theo học pháp môn Bát Nhã Ba La Mật cao thâm thì phải suy tưởng như vầy : Có
năm Uẩn và phải xem bản tánh của năm Uẩn đó như là trống không ! Sắc là không,
không là sắc. Không chẳng khác sắc, mà sắc chẳng khác không. Cái gì là sắc, đó
là không; cái gì là không, đó là sắc. Cảm giác, tư tưởng11, hành vi
và tri thức (thọ, tưởng, hành, thức) cũng đều không. Nầy Xá Lợi Tử, bản tánh
vạn vật đều trống không, chẳng có 12 chỗ khởi đầu cũng
chẳng có chỗ cuối cùng (vô thủy vô chung). Chẳng có nhơ bợn, cũng chẳng có cái
chi chẳng nhơ bợn, chẳng có cái vẹn toàn, cũng chẳng có cái chẳng vẹn toàn. Nầy
Xá Lợi Tử, vì vậy mà trong cái không nầy chẳng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Chẳng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Chẳng có sắc tướng, âm thanh, hương
vị, xúc giác và cảnh vật (pháp). Chẳng có mắt, v.v. . . cho đến 13 chẳng
có ý, chẳng có cảnh, chẳng có ý thức. Chẳng có Trí huệ, chẳng có vô minh, chẳng
có hết (vô minh) . . . cho tới chẳng có già chết, chẳng có hết già chết. Chẳng
có Khổ, Tập, Diệt, Đạo (bốn chơn lý), chẳng có trí huệ, chẳng có chứng đắc,
chẳng có vô chứng đắc Niết Bàn. Nầy Xá Lợi Tử, vì chẳng có chứng đắc (Niết Bàn)
mà một người nương vào Bát Nhã Ba La Mật của chư vị Bồ Tát (trong một thời
gian) tâm bị trói buộc 14. Nhưng một khi tâm hết bị trói buộc,
thì người ấy thoát khỏi mọi sự khiếp sợ, xa lìa vọng tưởng và đạt được cứu cánh
Niết Bàn.
Các Đức Phật từ đời
trước, đời nầy và đời sau, nhờ Bát Nhã Ba La Mật mà đắc quả vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
Bởi vậy chúng ta cần
phải biết đại thần chú Ba La Mật, là thần chú đại Trí huệ, cao hơn các thần chú
khác, thần chú nầy làm thuyên giảm mọi sự đau khổ - điều nầy nói thật chớ không
phải nói ngoa - thần chú Bát Nhã Ba La Mật đọc như vầy : “Hỡi Trí Huệ, đi, đi,
đi qua bên kia bờ, qua tới bờ bên kia. Ta bà ha !
Nầy Xá Lợi Tử, Bồ Tát
dạy tu học pháp môn Bát Nhã Ba La Mật cao thâm là như vậy đó.
Khi Đức Thế Tôn xuất
định, Ngài liền tỏ ý tán thành Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát và khen : Lành thay !
Lành thay ! Thiện nam tử, đúng như vậy. Học tập như thế mới là thật hành pháp
Bát Nhã Ba La Mật cao thâm. Lời Ngươi trình bày đã được các chư vị A la Hán Như
Lai (Arhat Tatha-gatas) hoan nghinh. Đức Thế Tôn nói với tấm lòng đầy hoan hỉ.
Tôn giả Xá Lợi Tử, Đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát, toàn thể chúng hội, và cõi
Trời, người, A tu la và chư Tiên, đồng ca tụng lời của Đức Thế Tôn.
Nơi đây chấm dứt kinh
Bát Nhã Ba La Mật.
(Trích “ The
Ancient Palm Leaves” - Cổ Bối Diệp - Những là buông - thuở xưa)
Bản dịch của Đạo hữu F.
(Từ trang 43 theo sách , ghi chú để tiện việc xem lạI thôi )
BẢN DỊCH CHỮ PHÁP
PRAJNA
- PARAMÏTÂ HRIDAYA SUTR
Le titre est Prajna
Paramita hridaya sutra. Le mot hridaya signifie “essenœ“. La traduction est faite d’après le
texte anglais de Shaku Hannya. J’aî contrôlé le texte thibetain qui est identique et conforme.
« Lorsque le Bodhisattva Avalokiteshvara étaît engagné dans la pratique de la profonde Prajna-Paramita, il perçut que les 5
skandas étaient tous vides. et il fut libéré ainsi de la douleur et de la
souffrance “O Sariputra, dit-il , la forme n' est pas
autre, chose que le vide
et le vide n’est pas
autre chose que la forme, ce qui est forme c’est le vide,
ce qui est vide
c’est la forme. La même définition peut-être donnée de la sensation, de la pensée, de la
conscience. 0 Sariputra, toutes les choses sont caractérisées par le vide ;
elles ne sont ni nées, ni supprimées ; elles ne sont ni tachées, ni immaculées
; elles ne grandissent ni ne se rapétissent pas. C' est pourquoi, dans le vide, il n'y a ni
forme, ni sensation, ni pensée, ni conscience ? ni yeux, ni oreilles, ni nez,
ni corps, ni mental, ni forme, ni son, ni odeur, ni goût, ni toucher, ni objets
; ni éléments de vision, etc. . . ni éléments de consciences ; il n'y a ni
ignorance, ni extinction de l'ignorance. . . ni vieillesse, ni mort, il
n'y a ni souffrance, ni accumulation, ni destruction, ni voie; il n'y a ni
connaissance, ni quelque chose à obtenir, car rien ne peut être obtenu. Le
Bodhisattva, qui a pris par
méthode la prajna-paramita,
n'a plus d'obstacles dans son mental ; et n’ayant plus obstacles, il n'a
pas peur ; allant au delà des visions non réelles et
pervertis il atteint le Nirvana final. Tous les Bouddhas du passé, du présent et du futur, qui dépendent de la Prajna
paramita atteinnent à la plus haute sagesse de perfection. C'est pourquoi nous nous savons que la Prajna paramita est un
mantra divin, un mantra de grande intellegience, le
plus
haut mantra, le mantra incomparable, qui est
capable de retirer toute souffrance,qui est la vérité et non l’erreur?
C'est pourquoi je proclame le mantra de la Prajna paramita .
Voici le mantra que l’on doit proclamer : “Gâte, gâte, pâragâte, pârasamgâte,
bdhi ,svâha”. O sagesse , partie, partie, partie vers l’autre
rive,
conduite vers l'autre rive, svâha.
J. MARQUÈS RIVIÈRE
Le Lotus Bleu no 4 Juin 1929
BẢN DỊCH TỪ PHÁP VĂN
RA VIỆT VĂN
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
TÂM KINH
PRAJNA PARAMITA
HRIDAYA SUTRA
Danh từ Hridaya có
nghĩa là “Tinh hoa”. Bản dịch này do theo bản chữ Anh của Shaku Hannya. Tôi có
kiểm soát lại bản của Tây Tạng thì thấy chúng nó giống in nhau, đồng nhất.
“Khi mà Đức Quán Tự
Tại Bồ Tát thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm thì Ngài thấy rằng Ngũ
Uẩn đều trống không và nhờ như thế Ngài tự giải thoát được các sự khổ não, đau
đớn”.
Ngài nói : “Nầy Xá Lợi
Phất ! Hình dạng chẳng khác sự trống không và sự trống không chẳng khác hình
dạng. Cái gì là hình dạng tức là sự trống không. Cái gì trống không tức là hình
dạng. Cảm xúc, tư tưởng và ý thức cũng vậy.”
“Nầy Xá Lợi Phất ! bản
tánh của vạn vật là trống không, chúng nó không sanh, không diệt, không nhơ,
không sạch, không thêm, không bớt, vì vậy cho nên trong cái trống không, khộng
có hình dạng, không có cảm xúc, không có tư tưởng, không có ý thức, không có
mắt, không có tai, không có mũi, không có thân, không có trí, không có sắc
tướng, không có tiếng tăm, không có mùi, không có vị, không có xúc, không có
vật thể, không có yếu tố của sự thấy, không có yếu tố của ý thức, không có vô
minh, không có sự diệt vô minh, không có lão, không có tử, không có khổ, không
có nguyên nhân sự khổ, không có sự diệt khổ, không có đạo mầu diệt khổ, không
có sự hiểu biết, không có cái chi mà hoạch đắc bởi vì có cái chi mà có thể
hoạch đắc bây giờ”.
Đức Bồ Tát hành theo
pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa thì trong trí không còn những chướng ngại, và bởi
không còn những chướng ngại cho nên Ngài không sợ hãi, vượt qua những ảo ảnh
sai lầm, Ngài đạt được cảnh Niết Bàn cùng tột.
Tất cả những chư Phật
quá khứ, hiện tại, vị lai, thật hành theo pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa đều đắc quả
vô thượng chánh đẳng, chánh giác. Vì vậy cho nên chúng ta biết rằng: Bát Nhã Ba
La Mật Đa là thần chú, là minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng chú, có năng
lực diệt các khổ não, nó là chân thực chứ không phải sự sai lầm. Cho nên tôi
tuyên bố câu chú Bát Nhã Ba La Mật Đa : Đây là câu chú mà người ta phải tuyên
bố:
Gate, gate, paragate,
parasamgate, bodhi, svâha; (Nầy Trí Huệ ! Đi, đi, đi qua bờ bên kia, dắt qua bờ
bên kia, Bồ đề Ta bà ha ): Trí huệ đáo bỉ ngạn.
------------
MAHA PRAJNA PARAMITA
HRIDAYA
selon la traduction du
Bhiskshu Vai Tae et du Dr Dwight Goddard
Ainsi ai je
entendu :
A ce moment, le
Béni entouré des Bodhisattvas les plus éminents et d’un grand nombre de
Bhikshus se trouvait à Rajaghra sur le Mt Vautour. Le Béni assis à l’écart
était absorbé en Samadhi et le Noble Avalokiteshvara était en méditation sur la
profonde Prajna Paramita. Le Vén. Sariputra, influencé par le Béni
absorbé en Samadhi, parle ainsi au noble Avalokiteshvara :
“Si un fils ou une
fille spirituelle désirant étudier la profonde Prajna Paramita, comment doivent
ils le faire ?”
Le Noble
Avalokiteshvara répondit au Vén. Sariputra :
“Si un fils ou une
fille désire étudier la profonde Prajna Paramita, il doit d’abord se défaire de
toutes les idées associées avec l’Ego. Il pensera ainsi : la personnalité,
qu’est ce que la personnalité ? Est ce une entité durable ou bien est elle
composée d’éléments qui disparaissent ?
La personnalité est
composée de cinq agrégats d’attachement – la forme, la sensation, la
perception, les activités mentales et la conscience et chacun d’eux wst par sa
nature vide de toute substance propre.
La forme est le vide,
le vide n’est pas différent de la forme ou la forme différente du vide, en
vérité le vide est la forme.
La sensation est le
vide, le vide n’est pas différent de la sensation, ni la sensation différente
du vide, en vérité le vide est la sensation.
La perception est le
vide, le vide n’est pas différent de la perception, ni la perception différente
du vide, en vérité le vide est la perception.
Les activités mentales
sont le vide, le vide n’est pas différent des activités mentales, ni les
activités mentales différentes du vide, en verité le vide est les activités
mentales.
La conscience est le
vide,le vide n’est pas différent de la conscience, ni la conscience différente
du vide, en vérité le vide est la conscience.
Ainsi, O Sariputra,
toutes choses ayant la nature du vide n’ont pas le commencement et pas de fin.
Elles ne sont ni sans défauts, ni avec des défauts, elles ne sont pas parfaites
ni imparfaites. Dans le vide, il n’y a pas de forme, pas de sensation, pas de
conception, pas d’activités mentales, pas de conscience. Il n’y a pas d’œil,
pas d’oreille, pas de nez, pas de langue, pas de sensation de contact, pas
d’esprit.
Il n’y a pas de vue,
pas de son, pas d’ordeur, pas de goût, pas de toucher, pas de processus
mentale, pas d’object, pas de connaissance, pas de cessation de l’ignorance.
Il n’y a pas de
destruction d’object, il n’y a pas de cessation de connaisance, pas de
cessation de l’ignorance.
Il n’y a pas les
Quatre Nobles Vérités, pas de souffrance, pas de cessation de la souffrance,
pas de Noble Sentier conduisant à la cessation de la souffrance.
Il n’y a pas de
décrépitude et pas de mort et pas de destruction de la notion de la décrépitude
et de la mort.
Il n’y a pas de
connaisance du Nirvana, il n’y a pas d’obtention du Nirvana, il n’y a pas de
non obtention du Nirvana.
Pourquoi n’y a t’il
pas de non obtention du Nirvana ?
Parce que le Nirvana
est le royaume de l’inexistence de toute chose. Si l’âme Ego de la personnalité
était une entité se constituant, elle ne pourrait pas obtenir le Nirvana.
C’est seulement parce que la personnalité est constituée d’éléments qui
disparaissent que l’on peut atteindre le Nirvana.
Tant que l’homme
recherche la Sagesse parfaite la conscience, il est allé au delà de l’atteindre
des changements et de la peur, il expériment déjà le Nirvana.
La parfaite
compréhension de ceci et son acceptation parfaite est la plus haute et parfaite
Sagesse qui est la Prajna Paramita. Tous les Bouddhas du passé, du présent et
du futur ayant atteint le Samadhi le plus élevé s’éveillent pour se trouver
dans la réalisation de la Prajna Paramita.
Donc, O Sariputra,
chacun doit rechercher la réalisation par soi même de la Prajna Paramita, la
Vérité Transcendantale, la Vérité impossible à surpasser, la Vérité qui met fin
à toute souffrance, la Vérité qui est vraie à jamais.
O Prajna Paramita, O
Vérité Transcendantale qui traverse l’océan trouble de la vie et de la mort,
conduit avec sureté ceux qui sont des chercheurs jusqu’à l’autre rive de
l’Illumination.
Ecoutez le mantra, le
grand mantra mystérieux :
GATE GATE PARAGATE
PARASAMGATE BODHI, SVAHA.
O Sagesse partie,
partie, partie sur l’autre rive, arrivée sur l’autre rive, Svaha.
O Prajna Paramita
puisse cela être.
(Budhist Bible, éd. Dr
Goddard 1938)
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
TÂM KINH
(Bản dịch của Tỳ kheo
Vai-Tae và Bác sĩ Dr Dwight Goddard)
Tôi nghe như vầy:
Thuở nọ Đức Thế Tôn;
ngự tại Vương Xá thành trên non Linh Thứu với những Bồ Tát Ma Ha Tát 15 và
một số đông Tỳ kheo.
Đức Thế Tôn ngồi riêng
một mình nhập định, còn Đức Quán Tự Tại Bồ Tát thì hành pháp Bát Nhã Ba La Mật
Đa cao thâm.
Đức Xá Lợi Phất nhờ
oai lực của Đức Phật lúc tham thiền mới bạch với Đức Quán Tự Tại Bồ Tát như vầy
:
“Nếu có thiện nam, tín
nữ muốn tu học pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa thì phải làm sao ?”
Đức Quán Tự Tại Bồ Tát
bèn đáp : nếu thiện nam, tín nữ nào muốn tu học pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa thì
trước hết nó phải loại bỏ tất cả những ý niệm liên kết với Bản Ngã. Nó phải suy
tưởng như vầy. Bản Ngã - Bản Ngã là gì ? Có phải là một thực thể trường tồn hay
là nó vốn do những yếu tố nhứt thời cấu tạo ra.
Bản Ngã vốn do Ngũ Uẩn
: sắc - thọ - tưởng – hành - thức hợp thành, bản tánh của mỗi uẩn vẫn trống
không.
Sắc tức là không –
không chẳng khác sắc - Sắc chẳng khác không, thật ra không tức là sắc. Thọ - Tưởng
– Hành - Thức cũng vậy. Vì thế, nầy Xá Lợi Phất, bản tánh của vạn vật vốn trống
không. Chúng vốn vô thủy vô chung, chúng chẳng phải “không bợn nhơ” mà cũng
chẳng phải “bợn nhơ”. Chúng chẳng phải “vẹn toàn” mà cũng chẳng phải “không vẹn
toàn”.
Trong chốn trống
không, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi,
không có cảm xúc, không có ý thức.
Không có nhãn thức,
không có âm thanh, không có hương vị, không có xúc, không có ý thức, không có
pháp, không có trí huệ, không có vô minh.
Không có sự diệt Pháp,
không có sự hết trí huệ, không có sự hết vô minh.
Không có Tứ diệu đề,
không có “Khổ”, không có “hết khổ”, không Đạo mầu dắt đến sự diệt khổ. Không có
già nua, không có sự tử, không có sự diệt già nua, không có sự diệt sự tử.
Không có sự hiểu biết
Niết Bàn, không có chứng đắc Niết Bàn, cũng không có “không chứng đắc Niết
Bàn”. Tại sao không có “không chứng đắc Niết Bàn” ? Bởi vì Niết Bàn là thế giới
vô nhứt vật. Nếu linh hồn là một thực thể tự cấu thành thì nó không chứng đắc
Niết Bàn. Chỉ tại Bản Ngã do những phần tử nhất thời cấu thành cho nên con
người mới không chứng đắc Niết Bàn. Ngày nào con người còn tìm kiếm sự Minh
Triết cao siêu tột bực thì ngày đó nó còn ở trong cảnh giới của ý thức.
Nếu nó muốn chứng đắc
Niết Bàn, nó phải vượt qua khỏi ý thức.
Trong lúc nhập định
cao siêu nhứt, vượt qua khỏi ý thức, nó thoát ra ngoài ảnh hưởng của sự biến
đổi thời gian, nó không còn sợ sệt, nó đã nhập Niết Bàn rồi.
Sự hiểu biết trọn vẹn
điều nầy, sự hoàn toàn công nhận nó là Minh Triết tối thượng, là Bát Nhã Ba La
Mật Đa vậy.
Tất cả chư Phật quá
khứ, hiện tại, vị lai, hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa đều đắc quả Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nầy Xá Lợi Phất ! mỗi
người phải tự mình hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, pháp Chơn lý tối cao, vô thượng,
diệt được các sự khổ não, chơn thật bất hư.
Hỡi Bát Nhã Ba La Mật
Đa ! Hỡi Chơn lý tối cao, vượt qua khỏi biển trầm luân của sự sanh tử, ngươi
dắt những kẻ thành tâm qua tới bờ giác một cách an toàn !
Hãy nghe câu Đại Thần
Chú mầu nhiệm.
Gate ! Gate ! Paragate
! Parasamgate ! Bodhi Svâha !
Hỡi Trí Huệ ! đi, đi,
đi qua bờ bên kia, tới bờ bên kia. Ta bà ha ! Cầu xin Bát Nhã Ba La Mật Đa là
như thế đó.
(Budhist – Bible – Ed.
Dr Goddard 1938)
Không rõ hai vị Tỳ
kheo Vai-tae và Bác sĩ Dr Dwight Goddard dịch theo bản Tâm Kinh chữ Phạn nào,
chớ đại ý của bản này cũng giống như bản dài của hai nhà sư Kim Tùng và Đại
Điền, chỉ khác có vài chỗ không trọng hệ như :
a) Bồ
Tát Ma Ha Tát.
b) Bản
Ngã là gì ?
c) Tại
sao lại có sự không chứng đắc Niết Bàn ?
Ngoài ra không có việc
“TỰ GIẢI THOÁT CÁC SỰ ĐAU ĐỚN, KHỔ NÃO” như trong bản của ông Jean Marquès
Rivière.
Đây là thêm một tiếng
chuông nữa đặng cho quí bạn có thấy nhiều bản Tâm Kinh mà bản chánh là bản nào
?
Làm sao mà giải quyết
vấn đề nầy bây giờ ?
------------
CHƯƠNG THỨ BA
Tại sao tôi lấy bản
dài Tâm Kinh.
Tôi không lấy bản ngắn
Tâm Kinh của Đại Đức Trần Huyền Trang hay là của Ziogon Tịnh Nghiêm, hoặc bản
của Jean Marquès Rivière mà tôi lại dùng bản dài Tâm Kinh của hai nhà sư Nhật
là Kim Tùng (Kanematsu) và Đại Điền (Ôta), vì riêng tôi, tôi thấy nó rành rẽ và
hữu lý lắm.
Tôi chia nó ra ba
đoạn.
1.- ĐOẠN NHỨT : Trong
lúc Đức Thế Tôn đại định thì Đức Quán Tự Tại Bồ Tát thật hành pháp Bát Nhã Ba
La Mật Đa cao thâm.
2.- ĐOẠN NHÌ : Từ “có
năm Uẩn và bản tánh của năm Uẩn đó vẫn là trống không cho tới . . . chẳng có
cái chẳng toàn vẹn”.
3.- ĐOẠN BA : Từ câu
“Xá Lợi Tử vì vậy mà trong cái trống không cho tới chót”.
Tôi xin tỏ ý kiến của
tôi vào mỗi đoạn như sau đây:
ĐOẠN NHỨT:
Tôi tin rằng những bạn
nào chưa thấy bản Kinh dài nầy thì không hiểu bản Kinh thường đọc là bản ngắn
và cũng chẳng rõ vì lẽ nào mới đọc câu : “ Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã
Ba La Mật Đa, thời chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách, rồi kế
đó.
Xá Lợi Tử . . . sắc
bất dị không . . .
. . . . . . . .
. . . . . . . .
Ý nghĩa của câu trên
không có nối liền với ý nghĩa của câu dưới. Hai ý nghĩa đều khác nhau và mỗi
câu vẫn độc lập.
Bản ngắn khó hiểu lắm.
Đọc bản Kinh dài, ta
mới biết trong lúc Đức Thế Tôn đại định thì Đức Quán Tự Tại Bồ Tát hành pháp
Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm.
Điều nầy chứng tỏ cái
chi ?
Nó chứng tỏ có hai
phương pháp :
a) Phương
pháp Đại định của Đức Phật và
b) Phương
pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát.
Hai phương pháp nầy có
giống nhau không ? Chúng nó khác nhau rất xa. Nếu giống thì nói làm chi.
Dường như tác giả muốn
nhấn mạnh về điểm đó cho người ta thấy. Kế đó là : hai chữ với hai ý nghĩa khác
nhau.
Trong bản dịch của
Ziogon Tịnh Nghiêm thì là looked on : nhìn xem.
Trong bản dài
thì thought thus : nghĩ như vầy.
Bản của Đại Đức Trần
Huyền Trang thì là Kiến : thấy.
Bản của ông Jean
Marquès Rivière là perçut : thấy.
Nhưng tại sao trong
bản của Ziogon Tịnh Nghiêm, bản của hai nhà sư Nhật không có câu : “Đệ nhứt
thiết khổ ách” như bản chữ Nho, mà bản của ông Jean Marquès Rivière lại có. Ông
Jean Marquès Rivière nói rằng bản nầy giống hệt bản Tâm Kinh của Tây Tạng. Ông
đã dò kỹ rồi. Câu đó dịch ra Pháp văn là “ il fut libéré ainsi de la douleur et
de la souffrance”.
PHẢI CHĂNG CÓ NHIỀU
BẢN TÂM KINH
VÀ BẢN NÀO LÀ BẢN
CHÁNH ĐÁNG TIN CẬY ?
Như vậy thì ta có thể
nói : Có nhiều bản Tâm Kinh và bản nào là bản chánh, hay là đáng tin cậy ?
Dám chắc đời nay không
một ai tri ra nổi việc này, bởi vì Đức Long Thụ trước tác Bộ Kinh Bát Nhã Ba La
Mật lối phân nửa thế kỷ thứ ba, 250 năm sau Chúa Giáng sanh, kể ra tới đời nay,
năm 1970 đã được 1720 năm rồi.
400 năm sau, tới thế
kỷ thứ VII, có không biết bao nhiêu sự biến đổi trong Phật Giáo.
Năm 629, Đại Đức Trần
Huyền Trang qua hành hương bên Ấn Độ, Ngài thấy phần đông những chùa chiền lớn
đều bị sụp đổ chỉ còn để lại những di tích mà thôi.
Tới thế kỷ thứ XI, đạo
Bà La Môn đã đuổi Phật Giáo ra khỏi quê hương họ. Phật Giáo không còn để lại
dấu vết nào cả.
Đọc lịch sử Phật Giáo
Ấn Độ từ buổi hưng thạnh cho đến lúc điêu tàn thì ta thấy cái nạn tam sao thất
bản không sao tránh khỏi được.
Về Tâm Kinh, tôi xin
đem ra một thí dụ thôi.
Cũng như trong cuốn “
Nguyên lý duy nhất của Triết học và Khoa học Viễn Đông” 16 của
ông Anh Trạch Sakurazawa, trang 158 có bản Tâm Kinh chữ Pháp như vầy :
LE SECRET DE LA
CONSCIENCE PARFAITE
(Maha prajna Paramita
hridaya sutra)
Avalokiteshvara
Bodhisattva ayant longuement expliqué à Sariputra le secret de la “Conscience
parfaite” qui sauve le monde de toute souffrance, démintra que Skandha tout
entier est de Çûnya, et il conclut : “Sariputra, les phénomènes physiques” sont
ainsi de Çûnya. Çûnya s’exprime en phénomènes. Les phénomènes sont donc Çûnya.
Çûnya est les phénomènes. De même la “sensation”, la “pensée”, les “vouloir” et
la “connaissance” ne sont autre chose que Çûnya.
“Sariputra, tout
Dharma est une propriété de Çûnya il ne nait, ni ne disparait. Il ne peut être
vicié, ni purifié, il n’augmente ni diminue. Car il n’y a en l’univers vrai
aucun phénomène, ni sensation, ni pensée, ni vouloir, ni connaissance.
La vue, l’ouïe,
l’odorat, la langue, le corps et l’esprit tous y sont inutilisables. Les
phénomène visuels, les sons et les paroles, l’odeur, le goût, la sensation et
la morale n’existent pas. Du monde visible au monde moral et spirituel rien
donc n’existe non plus.
“Il n’y a en Çûnya
aucune obscurité”, en même temps, il n’y a pa la fin de l’obscurité. De même,
ni le veillisssement ni la mort; et en même temps, il n’y en a pas la fin.
“Il est donc
impossible que la souffrance existe dans Çûnya , ni ses causes, les vouloir; ni
Nirvana, ni la voie pour y arriver. Ni savoir, ni non savoir, parce qu’il n’y a
aucun savoir.
“Bodhisattva qui a la
conscience parfaite” est librede tout doute et de toute hésitation. Il n’y a
aucune peur parce qu’il n’a aucun doute, ni hésitation. Il est donc liberé de
tous les désirs aveugles, de tous les rêves et gagne Nirvana.
“Tous les Bouddha des
trois mondes arrivent à la “conscience suprême de Çûnya” par la “conscience
parfaite”.
Nous avons ainsi
compris que le secret de la “conscience parfaite” est le grand secret
divin, qu’il est le secret splendide, qu’il est le secret sans pareil,qu’il est
le secret unique et suprême; qu’il supprime toute souffrance. Il est vrai; il
n’est pa faux.
“Car nous médition et
adorons ce secret, comme Mantra, de la “conscience parfaite” ; le voici :
Tous arrivent
Aux rives d’au delà
Tous ensemble
Par la conscience
Parfaite et adorable.
(Principe Unique de la
philosophie et de la science d’Extrême Orient par N. Sakurazawa, page
158).
Tôi xin dịch câu đầu
thôi : “Đức Quán Tự Tại Bồ Tát cắt nghĩa rất lâu cho Xá Lợi Tử nghe bí quyết
của Bát Nhã, nó giải thoát cõi đời ra mọi sự đau khổ17. Ngài chứng
minh rằng Ngũ Uẩn trống không và Ngài kết luận như vầy :
Nầy Xá Lợi Tử : Các
hiện tượng (pháp) đều trống không . . .
Bản nầy có vài
chỗ khác hẳn các bản mà chúng ta đã thấy, không biết ông Anh Trạch Sakurazawa
dựa theo bản Tâm Kinh nào mà viết như thế. Thật ra không có bản chữ Phạn nào
khởi đầu như bản của ông vậy.
Tôi đem ra đây là có ý
muốn quí bạn nghe nhiều tiếng chuông trước khi kết luận, bởi vì quả thật :
“Người nào chỉ nghe có một tiếng chuông thì chỉ nghe có một thứ âm thanh mà
thôi”.
-----------
THEO ÔNG ANH TRẠCH THÌ
ĐỨC QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT LÀ AI ?
Sau khi đọc bài Tâm
Kinh nầy rồi, chúng ta nên tìm hiểu coi theo ý ông Anh Trạch thì Đức Quán Tự
Tại Bồ Tát là ai ?
Trong cuốn “Nguyên lý
duy nhất của Triết học và Khoa học Viễn Đông” trương 156-157 có bản tự vựng,
trong đó ông giải nghĩa những chữ: Çûnya, Conscience, Avalokiteshvara
Bodhisattva, Sariputra, Dharma.
Ông nói rằng Đức Quán
Tự Tại Bồ Tát là một vị Phật, Ngài lặng nhìn thế giới vật vật chất và thế giới
tinh thần toàn diện giờ phút nào cũng được, tùy ý Ngài. Ngài tiêu biểu cho tâm
thức siêu việt.
“Avalokiteshvara
Bodhisattva Bouddha contemplant le monde physique et spirituel tout entier à
son gré, personnifiant la conscience parfaite”.
Định nghĩa nầy tuy có
khác hơn lời giải thích của Phật Giáo Tây Tạng, nhưng nó cũng ám chỉ rằng Đức
Quán Tự Tại Bồ Tát không phải là người phàm tục.
Như thế, tôi xin lập
lại đây một lần nữa; nói rằng Ngài thật hành pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa cao thâm
nên mới biết được Ngũ Uẩn trống không và nhờ đó Ngài mới tự giải thoát được các
sự đau khổ như câu đầu của Tâm Kinh mà chúng ta thường đọc, có phải là hết sức
vô lý không ?
Nhưng còn một sự rắc
rối khác nữa.
Dầu nói theo Phật Giáo
Tây Tạng, Ngài là một vị Đi Da Ni (Dhyani) Thiền Na Bồ Tát, hay nói theo ông
Anh Trạch, Ngài là một vị Phật lặng nhìn thế giới vật chất và thế giới tinh
thần, thì Ngài cũng vẫn ở ngoài địa cầu chúng ta.
Ngài xuống cõi Trần ở
hồi nào mà nói chuyện với Đức Xá Lợi Phất là vị đệ tử của Đức Phật Thích Ca.
Người biết suy nghĩ
đọc đến đoạn nầy cũng phải ngẩn ngơ không biết giải thích thế nào cho hợp lý, bởi
vì trong Ka La Ma (Kalama Sutra) Đức Phật đã bảo : không nên nhắm mắt tin
càn các kinh sách Thánh hay bất cứ là của Tôn giáo nào, nếu những lời đó không
hạp với chánh lý.
ĐOẠN NHÌ :
Bây giờ : Tôn giả Xá
Lợi Tử nhờ oai lực của Đức Phật xin Đức Quán Tự Tại Bồ Tát giải về phương pháp
Bát Nhã Ba La Mật Đa của Ngài.
Vậy thì ta nên tìm
hiểu những điều sau đây :
1) Uẩn
là gì ?
2) Tại
sao Ngũ Uẩn trống không ?
3) Vì
cớ nào : Sắc bất dị không, không bất dị sắc ?
1) Uẩn là gì ?
Chữ Uẩn vốn dịch chữ
Khanda Nam phạn hay chữ Skandha 18 (Bắc phạn) có nghĩa là
trói buộc, ràng buộc, đồng nghĩa với danh từ U ba đa na (Upadana).
NGŨ UẨN
Ngũ Uẩn là : Sắc Uẩn :
Hình thức (Rupa Khanda : Forme)
Thọ Uẩn : Cảm xúc
(Vedana Khanda : Sensation)
Tưởng Uẩn : Nhận
thức (Sanna Khanda : Perception)
Hành Uẩn : Sự phán
đoán (Sankhara Khanda : Formations mentales)
Thức Uẩn : Ý thức,
hiểu biết (Vinnana Khanda : Conscience)
Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức có ích chi không ? Chúng có phận sự gì không ? Tại sao Phật Giáo nói rằng
Ngũ Uẩn làm ra con người mà Ngũ Uẩn cũng trói buộc nữa.
NGŨ UẨN TRÓI BUỘC AI ?
Muốn trói buộc thì
phải có một sợi dây để trói buộc và một con người hay một vật bị trói buộc.
Bây giờ ta phải nêu ra
câu hỏi : Ngũ Uẩn trói buộc ai ? Nếu nói Ngũ Uẩn trói
buộc con người thì con người phải khác hơn Ngũ Uẩn, và Ngũ Uẩn chỉ là một sợi
dây. Nhược bằng cho rằng Ngũ Uẩn trói buộc thì tức là nói : Ngũ Uẩn tự trói
buộc Ngũ Uẩn hay con người tự trói buộc con người. Điều nầy thực là cực kỳ phi
lý.
Vậy thì ta phải tìm
hiểu coi thật sự Ngũ Uẩn là cái gì và chúng trói buộc ai.
NGŨ UẨN LÀ BA THỂ :
THÂN – VÍA – TRÍ CỦA CON NGƯỜI
THEO HUYỀN BÍ
HỌC.
Các nhà Huyền bí học
đều biết rằng thật con người là Chơn Thần, nói một cách khác để dễ hiểu hơn xin
gọi là Linh Hồn hay Chơn Nhơn. Còn Ngũ Uẩn của Phật Giáo vốn là ba thể của con
người thường ngày, mỗi giờ, mỗi phút và chỉ trong một kiếp thôi.
1/ Sắc Uẩn tức là Xác
thân kể luôn cái Phách (Double éthérique)
2/ Thọ Uẩn tức là cái
Vía (Corps astral)
3/ Tưởng Uẩn
4/ Hành Uẩn Tức là ba đặc tánh của Hạ trí
(Corps mental inférieur),
chúng
5/ Thức
Uẩn tiêu biểu cho Hạ trí.
Tôi không hiểu vì lẽ
nào mà Phật Giáo thuở xưa gọi ba thể là Uẩn tức là những chướng ngại vật, những
xiềng xích, bởi vì nói như thế Phật Giáo chỉ biết có tánh xấu của ba thể chớ
không công nhận chỗ tốt của chúng là phụng sự con người và tạo nên hạnh phúc
cho con người khi biết cách sử dụng chúng.
Nếu con người không có
:
1/ Sắc Uẩn là Xác thân
thì làm sao học hỏi và hành động tại cõi Trần được.
2/ Không có Thọ Uẩn là
cái Vía thì làm sao biểu hiện được ý muốn và tình cảm của mình lúc còn ở cõi Trần
và làm sao quan sát và kinh nghiệm khi qua ở cõi Dục giới hay là Trung giới
được.
3/ Không có
Tưởng Uẩn, Hành Uẩn và Thức Uẩn thì làm sao học hỏi ghi nhớ, phân biện, xét
đoán, tưởng tượng được khi còn ở cõi Trần và lúc lên cõi Hạ thiên của Thượng
giới.
Mà con người có sanh
ra ở cõi Trần thế nầy đâu và làm sao mà sanh ra được bây giờ.
Cho đến Đức Thích Ca
nếu không có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thì làm sao Ngài tu hành được hầu đắc
đạo thành chánh quả. Tại sao chúng nó lại không trói buộc Ngài được ? Đó là
điều chúng ta cần phải biết rành rẽ.
NGŨ UẨN TRÓI BUỘC CÁCH
NÀO ?
Các nhà Huyền bí học
và đệ tử của Chơn Sư đều biết rằng: Ngũ Uẩn hay là ba thể Thân, Vía, Trí của
con người đều có tánh nết riêng biệt khác nhau.
Tỷ như Xác thân thì
biếng nhác, lánh nặng tìm nhẹ, ưa thích những món ngon vật lạ, ham chơi bời
thong thả.
Cái Vía thì ham mê vật
dục, thích những sự rung động dữ dội như : nóng nảy, giận hờn, tham lam, tật
đố, chưỡi mắng, rủa sả, làm những chuyện hung hăn tàn bạo.
Hạ trí thì lao chao,
kiêu căng, phách lối, không bao giờ chịu định vào một chỗ cho lâu. Nó chia rẽ Người và Ta ,
nó dựng lên một tấm vách tường ngăn cách nó và người khác, vì vậy cho nên nó
hết sức ích kỷ v. v. . .
Ba thể nầy xúi dục con
người làm những điều mà nó thích, miễn chúng được toại ý thì thôi; ai có đau
khổ vì chúng, chúng cũng không cần biết tới. Bởi con người chưa sáng suốt nên
chưa phân biệt được ý muốn của chúng và ý muốn nào thật của mình. Con người cứ
nghe theo chúng và làm những việc không nên làm. Bởi vậy bị mắc kẹt vào bánh xe
Luân hồi từ kiếp này qua kiếp khác, cứ đầu thai đi đầu thai lại mãi đặng thanh
toán những mối nợ nần, người ta gọi là trả quả.
Vì mấy lẽ trên đây mà
Phật Giáo mới gọi : Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là Ngũ Uẩn, năm dây xiềng xích
trói buộc con người . . .
Trói buộc đây là trói
buộc vào bánh xe nghiệp quả Luân hồi. Một khi bị trói buộc rồi thì con người
không còn được tự do nữa. Có nhiều điều con người muốn làm mà làm không được.
Tới chừng nào con
người thức tỉnh, con người mới bắt đầu biết rằng mình là Chơn Thần hay là Linh
Hồn; mình khác với ba thể Thân, Vía, Trí. Từ đó con người mới lo luyện tập mỗi
ngày đặng làm chủ chúng, thay vì trước kia con người ở dưới quyền sai khiến của
chúng. Thắng phục chúng rồi mới học Đạo được.
2) Tại sao Ngũ Uẩn trống
không ?
Muốn chứng minh Ngũ
Uẩn trống không thì phải phân tách chúng nó ra.
Như tôi đã nói : Ngũ
Uẩn tức là ba thể Thân, Vía và Hạ Trí của con người chớ không có chi lạ.
1/ Sắc Uẩn tức là Xác
thân hợp với cái Phách (Double éthérique) làm bằng chất Hồng trần (Matière
physique) đã cấu tạo ra cõi Phàm trần này.
2/ Thọ Uẩn tức là cái
Vía (Corps astral) làm bằng chất Thanh khí (Matière astrale) đã cấu tạo ra cõi
Trung giới (Plan astral) cũng gọi là Thế giới tình cảm (Monde des Émotion).
3/ Tưởng Uẩn; Hành
Uẩn; Thức Uẩn : tượng trưng Hạ Trí (Corps mental inférieur). Hạ Trí làm bằng
chất Thượng Thanh Khí cũng gọi là chất Trí tuệ (Matière mentale) đã cấu tạo ra
cõi Thượng giới cũng gọi là Thiên Đường hay cõi Trí Tuệ (Monde Céleste ou Plan
mental).
Mỗi chất khí đều do
những nguyên tử cấu thành.
Sau khi con người từ
trần một ít lâu thì ba thể Thân, Vía, Trí hay là Ngũ Uẩn đều rã ra và
huờn lại những nguyên tử như trước, thứ nào theo thứ nấy.
NGUYÊN TỬ HỒNG TRẦN
VẨN TRỐNG KHÔNG
Ta biết rằng thân thể
của con người và các loài vật đều làm bằng những tế bào và mỗi tế bào do nhiều
nguyên tử hợp lại và cấu thành; đem phân tách mỗi nguyên tử thì thấy nó gồm hai
phần :
a) Chính giữa là một cái Hột hay là Nhân (Noyau).
b) Chung quanh
Nhân là những âm điện tử (électrons) xây tròn không khác nào những hành tinh
xây chung quanh mặt trời.
Mà Nhân cũng gồm hai
phần :
1/ Những Trung hòa tử
(Neutrons) không chứa thứ điện nào cả và
2/ Những Dương điện tử
(Protons) chứa điện dương.
Chính giữa âm điện tử
và Nhân là khoảng trống không tuyệt đối. Mà hai nguyên tử không dính liền với
nhau. Cái nầy cách cái kia rất xa và khoảng giữa hai nguyên tử còn lớn hơn
nguyên tử nữa.
Thế thì nguyên tử là
một bầu điện lực tí hon, còn thân thể của con người và các loài vật là một bầu
điện lực to lớn nhưng nó cũng vừa là cái máy sanh điện và cái máy biến điện một
lượt nữa.
ĐIỆN LÀ GÌ ?
Mà điện là gì ? Không
ai quả quyết được, người ta chỉ biết nó là một thứ lực, một thứ rung động mà
thôi.
Theo tấm bảng rung
động (Tableau des vibrations) thì :
a/ Rung động 32 lần
trong một giây đồng hồ thì làm ra tiếng (Son), tới 32.768 lần thì lổ tai không
còn nghe được nữa.
b/ Rung động 1.046.578
lần trong một giây đồng hồ thì làn sóng điện phát sanh. Tới 34.869.768.868 lần
thì làn sóng điện chấm dứt.
c/ Rồi tới
36.184.372.038.832 lần trong một giây đồng hồ thì làn sóng ánh sáng phát sanh .
. .
Theo khoa học thì toàn
là những sự rung động. Nhưng cái chi rung động, rung động chỉ là hiệu quả mà
thôi ? Nguyên nhân làm ra sự rung động ở đâu ? Rung động bao nhiêu lần làm ra
điện dương ? bao nhiêu lần làm ra điện âm ? bao nhiêu lần làm ra điện trung hòa
(électricité neutre) ? Hoàn toàn bí mật ?
CÁC VẬT CỨNG RẮN VẪN
TRỐNG KHÔNG
Một tảng đá, một miếng
sắt vẫn cứng rắn. Ta lấy búa đập thì tay bị dội lại. Ai lại không cho nó là đặc
cứng, nhưng nói một cách tuyệt đối, nó vẫn trống rỗng, như khoa học đã chứng
minh. Không có những sự giải thích về nguyên tử thì không có ai bao giờ tin
rằng cục đá hay miếng sắt lại trống không và người ta sẽ cho ta là điên khùng
khi ta nói như vậy.
NGUYÊN TỬ LÀM RA CÁI
VÍA VÀ NGUYÊN TỬ LÀM RA CÁI TRÍ
VẪN TRỐNG KHÔNG.
Nếu nguyên tử Hồng
trần trống không, nói một cách khác nó chỉ là một cách rung động gọi là Điện,
thì nguyên tử làm ra cái Vía và nguyên tử làm ra cái Trí còn trống không nhiều
hơn nữa.
Đây chỉ là lý luận mà
thôi : muốn thấy thì phải sử dụng hai quyền năng còn tiềm tàng trong mình gọi
là Thần nhãn và Thiên nhãn mới quan sát chúng nó được; cũng như xác thân có con
mắt để xem coi vạn vật ở cõi Trần vậy.
Bây giờ, với những
bằng chứng khoa học chúng ta có thể nói rằng Ngũ Uẩn hay ba thể Thân – Vía –
Trí của con người vốn trống không.
CỘI RỂ CỦA VẬT CHẤT
HAY LÀ HỔN NGUƠN NHỨT
KHÍ.
Bây giờ ta phải đi xa
hơn nữa để tìm cội rễ của vật chất là cái chi ? Trước đây tôi có nói tới ba
chất khí hay là ba thứ vật chất đã cấu tạo ra ba cõi chót của Thái dương hệ
chúng ta.
Bắt dưới kể lên thì
như vầy :
7.- Cõi thứ bảy là cõi
Hạ giới hay là cõi Hồng trần (Plan physique) chỗ chúng ta đương ở đây.
6.- Cõi thứ sáu là cõi
Trung giới hay là cõi Dục giới (Plan astral) cũng gọi là Thế giới tình cảm.
5.- Cõi thứ năm là cõi
Thượng giới cũng gọi là cõi Thiên Đường hay là cõi Trí tuệ (Monde céleste
ou Plan mental).
Trên cõi Thượng giới
còn có bốn cõi cao hơn nữa ấy là :
4.- Cõi thứ tư là cõi
Bồ Đề (Plan Bouddhique) hay là cõi Trực giác.
3.- Cõi thứ ba là cõi
Niết Bàn (Plan Atmique ou Nirvana) . Thế giới Thiêng Liêng, cũng gọi là Tứ
Tượng.
2.-Cõi thứ nhì là cõi
Đại Niết Bàn (Paranirvana ou Plan Anupadaka) . Thế giới Đại Thiêng Liêng, cũng
gọi là cõi Lưỡng Nghi.
1.- Cõi thứ nhứt là
cõi Tối Đại Niết Bàn (Mahaparanirvana ou Plan Adi) . Thế giới Tối Đại Thiêng
Liêng, cũng gọi là cõi Thái Cực.
Thái dương hệ của
chúng ta có 7 cõi thì lẽ tự nhiên có 7 chất khí căn bản. Mỗi thứ khí căn bản
còn chia ra làm 7 thứ khí phụ thuộc. Mỗi thứ khí phụ thuộc làm ra một cảnh
(Sous plan). Bảy cõi có 49 cảnh hay là 49 thứ khí phụ thuộc.
Ở MỘT GỐC MÀ RA
Bảy chất khí căn bản
có khác với nhau chăng ? Chúng nó khác nhau rất xa.
Đặc tính của chúng nó
là :
Chất khí ở cõi cao
chừng nào thì rung động mau lẹ, màu sắc tốt đẹp hơn các chất khí ở những cõi
thấp hơn nó chừng nấy và cũng chun thấu qua các chất khí nầy nữa.
Để chứng minh tôi xin
đem thí dụ của chất Hồng trần đã làm ra cõi phàm nầy.
Chất khí căn bản Hồng
trần chia ra làm bảy thứ khí phụ thuộc, làm ra bảy cảnh bắt dưới đếm lên là :
7.- Cảnh của chất đặc
: Đất, cát.
6.- Cảnh của chất lỏng
: Nước.
5.- Cảnh của chất hơi
: Không khí
và bốn cảnh dĩ thái :
cảnh của dĩ thái thứ tư
cảnh của dĩ thái thứ ba
cảnh của dĩ thái thứ nhì
cảnh của dĩ thái thứ nhứt.
Dĩ thái thứ tư chun
thấu qua ba chất : chất đặc, chất lỏng và chất hơi. Ngày nay khoa học biết có
chất dĩ thái song chưa tìm được phương pháp cầm giữ nó như đã cầm giữ khí trời
trong một cái ve vậy.
Tôi nói điều này đặng
cho quí Huynh thấy rằng dầu cho cõi Tối Đại Niết Bàn đi nữa, nó cũng như cõi
Trần nghĩa là làm bằng vật chất, nhưng chỉ khác một điều là chất khí làm cõi
Tối Đại Niết Bàn tốt đẹp và nhẹ nhàng hơn chất khí làm ra cõi Trần mà thôi.
Mặc dầu bảy chất khí
căn bản khác nhau song chúng nó ở cùng chung một gốc mà ra.
Gốc nó là Hổn Nguơn
Nhứt Khí - tiếng Phạn là Mulaprakriti hay là Koilon . . . tiếng Pháp là Ether
Primordial (xin gọi Ether Primordial là Tiên Thiên Dĩ thái) đặng có sự
khác biệt với Dĩ thái Hồng trần (Ether physique).
HỔN NGUƠN NHỨT KHÍ
(KOILON) VẨN TRỐNG RỔNG.
Koilon có nghĩa là
trống rỗng : (vide), những vị mở tới Tối Thượng Huệ Nhãn hay là Phật Nhãn đặng
quan sát nó thì thấy nó trống rỗng.
Nhưng mà nó vừa trống
rỗng vừa cứng rắn một lượt không khác nào cục đá mà tôi đã đem ra thí dụ khi
nảy.
HỔN NGUƠN NHỨT KHÍ,
KOILON LÀ CHẤT CỰC KỲ CỨNG RẮN.
Huyền bí học dạy rằng
Đức Thượng Đế dùng thần lực của Ngài xoi lủng Hổn Nguơn Nhứt Khí Koilon làm ra
hằng hà sa số lổ trống, gọi là những bọt Koilon (bulles de Koilon).
Ngài phối hợp những
bọt nầy đặng làm ra những nguyên tử căn bản (atome ultime) và dùng chúng nó để
lập bảy cõi Trời hay là bảy cõi của Thái dương hệ.
Thế thì Hổn Nguơn Nhứt
Khí cứng rắn lắm sao ? Thật đúng vậy.
Nhà bác học Anh Sir
Oliver Lodge đã chứng minh điều nầy ở hai đoạn dưới đây trong quyển sách của
ông.
TỶ TRỌNG CỦA HỔN NGUƠN
NHỨT KHÍ
(DENSITÉ DE L’ÉTHER)
a/ Sức mạnh cố hữu của
Hổn Nguơn Nhứt Khí :
Ông Sir Oliver Lodge
nói :
“Mỗi ly khối của không
gian chứa đựng một cách thường trực một năng lượng mà hiện giờ chưa có thể hiểu
thấu được, đụng chạm tới được, nó mạnh bằng năng lượng toàn diện của một cái
máy điện, sức mạnh của một triệu kí lô hoách phát ra trong 30 triệu năm như
vậy”.
Nhưng mà sự ước lượng
của ông còn thấp hơn chớ không phải cao hơn thực tế, nó còn kinh ngạc hơn nữa.
Energie intrinsèquede
l’éther.
Chaque millimètre cube
de l’espace, dit il, renferme d’une manière permanente et pour le moment,
inaccessible, l’énergie totale qu’une installation d’une puissance d’un million
de Kilowats produirait en trente millions d’années.
Là encore, son
estimation est bien plutôt en dessous qu’en dessus de la stupéfiante réalité.
Điều nầy nói ra như
nói chuyện chiêm bao. Nửa thế kỷ trước, trừ ra các nhà Huyền bí học và vài nhà
khoa học, thì không ai tin được những lời trên đây.
b/ Tỷ trọng của Hổn
Nguơn Nhứt Khí.
Nhưng bây giờ, người
ta đã thấy sức mạnh của nguyên tử rồi thì chắc là người ta không còn hoài nghi
về sức mạnh của Hổn Nguơn Nhứt Khí (Koilon) nữa.
Về tỷ trọng của Hổn
Nguơn Nhứt Khí Koilon, sau khi tính toán rồi ông Sir Oliver Lodge kết luận như
vầy :
“Do theo căn cứ nầy
thì sự ước lượng thấp hơn hết của tỷ trọng của Hổn Nguơn Nhứt Khí là 10 ngàn
triệu lần (10 tỉ) tỷ trọng Bạch Kim.
En faisant sur cette
base une sorte d’estimation minima de la densité de l’éther, on arriverait à
quelque chose comme dix mille millions de fois celle de platine. Il y ajoute
plus loin que cette densité pourrait devenir cinquante mille millions de fois
celle de platine”.
Trích trong quyển Hóa
học Huyền bí của Đại Đức Annie Besant và Leadbeater xuất bản năm 1920, trương
154-155. (La Chemie occulte par A. Besant et Leadbeater – Edition 1920.
Một tấc khối của Hổn
Nguơn Nhứt Khí nặng là bao nhiêu ?
Ta biết rằng : tỷ
trọng của Bạch kim là 21,4 nghĩa là 1 tấc khối (dm3 ) Bạch kim
nặng 21,4 kg, muốn kiếm sức nặng của một tấc khối Hổn Nguơn Nhứt Khí thì ta lấy
số 21,4 kg nhơn cho 10 tỉ ; thì ta sẽ có số :
21,4 kg х
10.000.000.000 = 214 tỉ Kilô.
nghĩa là 1 tấc khối
Hổn Nguơn Nhứt Khí nặng 214 tỉ kilô.
Ông Sir Oliver Lodge
còn nói số nầy có thể tăng lên 5 lần như vậy, nghĩa là 1 tấc khối Hổn Nguơn
Nhứt Khí có thể nặng 1.070 tỉ kilô.
------------
Áp lực của nó thật là
phi thường. Ông Henri Poincaré, một nhà toán học trứ danh của nước Pháp cũng có
nói “ Nguyên tử chỉ là một lổ trống không trong Hổn Nguơn
Nhứt Khí”. (L’atome n’est qu’un trou dans l’éther).
--------------
Để làm sáng tỏ vấn đề
vật chất vừa trống rỗng và vừa đặc cứng một lượt, tôi xin trích lục ra đây cho
quí huynh xem bài “ Nguyên tử, một bầu tiểu vũ trụ đầy sự huyền diệu của bác sĩ
O’Brien đương kim giáo sư trường Đại học Notre Dame”.
(Từ trang 75 theo sách
, ghi chú để tiện việc xem lạI thôi)
NGUYÊN TỬ.
MỘT BẦU TIỂU VŨ
TRỤ ĐẦY SỰ HUYỀN DIỆU.
Bác sĩ O’Brien,
đương kim giáo sư Trường Đại học Notre Dame. Suốt 35 năm trường, bác sĩ tận tụy
với khoa học, triết học và tôn giáo, thường giải thích sự phát triển khoa học.
Ông sáng tác nhiều bộ sách có giá trị, như quyển TRUTHS MEN LIVE BY ( The
Macmillan Co xuất bản tại New York) được các nhà bác học, các triết gia và
những nhà binh vực tôn giáo hoan nghênh nhiệt liệt.
----------------
Nếu ta thấy một hành
khách gọi năm người phu khuân vác tới khiên một chiếc hộp nhỏ bằng bao thuốc lá
như bao thuốc “Ách Chuồng”, chắc ta cho đó là trò hề. Nhưng khi thấy năm người
lao công lực lưỡng rán sức mà xô đẩy cái hộp không nhúc nhích, thì ta sẽ ngạc
nhiên, không còn cho là một trò đùa nữa đâu. Nếu vị hành khách nầy mở hộp ra
chỉ cho ta thấy trong đó chỉ đựng một tí mảnh vụn vật chất nhỏ hơn đầu mũi kim
thì ta sẽ sửng sờ kinh ngạc dường nào.
Sau đó, chiếc hộp được
đem cân thì thấy nó nặng tới cả mấy ngàn ký, chắc chắn ta sẽ dụi mắt và tự hỏi
: phải chăng là ta chiêm bao ? Thật sự, việc lạ kỳ nầy có thể xảy ra nơi cõi
trần như vậy sao ?
Mới đây, nhờ sự nghiên
cứu về vật lý hạch tâm (physique nucléaire) các nhà bác học khám phá ra một
tiểu vũ trụ mới có nhiều sự lạ lùng ngoài sức tưởng tượng con người, còn ly kỳ
hơn truyện Tây du, Phong thần nữa.
Hẳn thật, về vật lý
học, các nhà thông thái chứng minh rằng một hạt bụi nhỏ mà chúng ta vừa nói
trên có thể cân nặng tới mấy tấn, nếu loại bỏ những khoảng
trống không, rồi chồng chất các nguyên tử cấu thành ấy chung lại với nhau.
Vậy ra vật chất cũng
có khoảng trống nữa sao ? Dĩ nhiên là có. Hiện nay chúng ta đều biết hầu hết
các cái trống không đều tạo thành vật chất. Ở khoảng giữa mênh mông trống rỗng,
có những vi phân tử cực nhỏ đến đỗi không thể thấy hay chụp ảnh được vì nó quay
cuồng với một tốc độ rất mau lẹ.
Nhiều lý thuyết gia
vật lý dùng toán học để chứng minh sự có thật những vi phân tử nhỏ nhít đó để
học hỏi trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu nhiều hiện tượng kỳ diệu lạ lùng.
Xưa kia, tổ tiên ta
biết rằng có nhiều chất hợp thành dung lượng là do các nguyên tử dầy đặc và bất
động hợp thành (ít ra họ cũng hiểu như vậy). Nhưng ngày nay, nhờ ra công tìm
tòi thực nghiệm, các nhà bác học tân thời khám phá nhiều việc mới mẻ làm xáo
trộn những lý thuyết xưa, và chứng minh rằng : Hầu hết vật chất là trống không
và có rất nhiều vi phân tử đều chứa điện và quay cuồng hết sức mau lẹ. Còn
nguyên tử giống như Thái dương hệ thâu nhỏ lại.
Sự phát minh nầy hãy
còn mới mẻ, nên chưa phổ biến. Vào năm 1911, nhờ công thí nghiệm của nhà vật lý
Tân Tây lan là ông Ernest Rutherford, được giải thưởng Nobel, trình bày rõ ràng
về sự cấu tạo huyền diệu của nguyên tử.
Rutherford dùng nguyên
tố do những chất phóng xạ phát ra để bắn phá lung tung nguyên tử. Nhưng lạ
thay, các viên đạn vi phân tử xuyên qua nguyên tử như vào chỗ trống không,
chẳng khác nào bắn vào ma quỉ vậy. Tuy nhiên, có vài viên đạn (trong 10.000
viên có chừng một viên trúng) dường như đụng vào vật gì bật ra. Rutherford liền
hiểu rằng nguyên tử không phải hoàn toàn vô hình thể. Trong khoảng trống mênh
mông, có một vài nguyên tố tập trung năng lực hay thể chất của nguyên tử.
Thế giới mới trong
nguyên tử có nhiều điều kỳ diệu mường tượng thuở xưa ông Galilée dùng viễn vọng
kính nhìn xem vòm trời bao la chưa ai biết, rồi hốt nhiên khám phá ra trái đất
nầy không đứng yên một chỗ, mà nó xoay quanh mặt trời như các hành tinh khác
vậy.
Sự khám phá vĩ đại của
ông Galilée đánh đổ lý thuyết cũ kỹ là con người ở chính giữa vũ trụ. Nhờ vậy
mà tánh khoe khoang, ngạo mạn của con người bị một vố rất nặng, trở nên khiêm
tốn, nhìn biết Tạo hóa là Đấng Cao cả, uy quyền, trọn lành vô lượng. Chắc chắn
một ngày gần đây, sự tiết lậu Thái dương hệ nhỏ nhít của nguyên tử trở nên quan
trọng như một sự phát kiến của Galilée.
Đây là công trình của
các ông Thomson, Rutherford, Moseley, Bhor, Fermi, Millikan, Compton, Urey và
nhiều nhà danh tiếng khác đã dẫn đường cho chúng ta suy xét và tìm hiểu thế nào
là vật chất.
Vật chất do các phân
tử (molécules) hợp thành, đường bán kính trung bình bằng một phần mười triệu ly
(1/10.000.000 m/m). Phân tử do các nguyên tử hợp thành. Nguyên tử rất nhỏ, nhỏ
đến nỗi ta lấy năm triệu (5.000.000) hạt nguyên tử sắp thành hàng dài, thì nó
chỉ lớn bằng dấu chấm câu nầy. Nguyên tử do sự cấu tạo của nhiều chánh điện tử
(protons), chứa điện dương, hợp với trung hòa tử (neutrons) làm thành cái nhân
(noyau). Chung quanh là điện tử (électrons) chứa điện âm, tương đương số chánh
điện tử, quay vòng theo cái nhân với tốc độ mau lẹ không thể tưởng tượng được.
Khi nhà thiên văn nhìn
vào viễn vọng kính để dò xét bầu trời rộng bao la, thấy cái vực thẳm vĩ đại
mênh mông xa cách các vì tinh tú, thì không khỏi có cảm giác kinh ngạc và khủng
khiếp. Nhưng đối với nguyên tử, nếu đem so sánh cái khoảng trống không với Thái
dương hệ , thì nó còn rộng lớn hơn khoảng trống không của Thái dương hệ của
chúng ta đang sinh sống đây rất nhiều. Vì vậy khoa học cho rằng : Điều cốt yếu
để cấu tạo vật chất là cái trống không (le vide).
Khi nhìn vào tấm vách
tường bằng “bê tông”, ta thấy toàn là một khối dầy đặc, cứng chắc, không chút
kẽ hở, nhưng thật ra nó có rất nhiều lổ trống lớn và thưa thớt như lưới cá biển
vậy.
Một ngày kia trong khi
giảng bài, giáo sư O’Brien hỏi một người học trò có chưn trong đoàn túc cầu :
- Anh cân
được bao nhiêu ?
Sinh viên đáp :
- Một trăm
ký.
Giáo sư nói tiếp :
- Hỏi thiệt
chớ không có ác ý. Nếu người ta vứt bỏ hết cái trống không từ đầu đến chưn của
anh rồi chất đống lại thì anh còn bao lớn ?
- Tôi tưởng
trong thân thể của tôi chẳng có khoảng trống nào đáng kể.
- Vậy
anh hãy nghe đây. Nếu bỏ hết mấy khoảng trống không của anh mà chất đống lại
thì xác thân của anh chỉ còn bằng hạt bụi nhỏ xíu, nhỏ đến đỗi mắt thường không
thấy. Anh tin lời tôi không ? Vậy anh hãy đọc đoạn nầy của một vật lý gia lừng
danh nước Anh là Arthur Eddington đương kim giáo sư Đại học đường Cambridge.
Dứt lời ông trao quyển
sách của giáo sư Eddington, nhan đề Vạn vật của Vũ trụ Hồng
trần (The Nature of the Physical World) có mấy hàng như vầy :
“Sự tíết lộ của lý học
tân tiến về cái trống không trong nguyên tử làm cho trí khôn con người còn sửng
sờ hơn là sự tiết lộ của nhà thiên văn về cái trống không bao la ở khoảng giữa
của các định tinh. Nguyên tử cũng xốp và có hở như Thái dương hệ vậy.
Nếu chúng ta loại bỏ
hết các khoảng trống không trong thân thể con người và tom góp lại những
chánh điện tử và điện tử của con người làm thành một
khối, thì xác thân của chúng ta chỉ còn nhỏ bằng hạt bụi, phải dùng kính phóng
đại mới vừa đủ thấy mà thôi”.
Cách thay hình đổi
dạng nầy chỉ là sự sa thải những khoảng trống không và chỉ để lại các phân tử
của vật chất, vì vậy sức nặng của cái hạt dầy đặc điện tử và chánh nguyên tử là
sức nặng của cầu tướng cao 1 thước 85 phân. Hạt bụi gần như không thấy đặng đó
cũng cân nặng 100 ký.
Cũng một lẽ ấy, nếu ta
loại bỏ những khoảng trống không nguyên tử của các vật chất nơi trái đất nầy,
thì bầu hành tinh của chúng ta ở đây sẽ gầy bớt, và đường bán kính của trái đất
chỉ đo được một ngàn thước là nhiều.
Tốc độ của các phân tử
quay theo quỉ đạo của nó cũng lạ thường.
Ngày kia, giáo sư
O’Brien hỏi một trong các sinh viên của ông đang ngậm ống điếu :
- Theo ý anh, những
nguyên tố của cái ống điếu mà anh đang hút đó nó nằm yên hay chuyển động ?
Sinh viên đáp :
- Tôi tưởng nó nằm
yên.
- Này, ống điếu
anh đang hút đó do sự phối hợp ba bộ phận nhỏ căn bản : điện tử, trung
hòa tử và chánh điện tử hợp thành; điện tử quay tròn mãi không ngừng
theo chung quanh cái nhân do chánh điện tử và trung hòa tử hợp
lại. Thật ra, những điện tử trong ốngđiếu của anh nó xoay vòng
theo quỉ đạo (orbites) hơn một triệu tỉ lần trong một giây đồng hồ ! Các nhà lý
học nhìn nhận tốc độ quỉ đạo mau lẹ quá trí tưởng tượng con người là chuyện
thật của khoa học khỏi phải bàn cãi gì nữa. Tốc độ của điện tử còn mau lẹ hơn
tốc độ của hành tinh rất nhiều, mặc dầu nguyên tử nhỏ cực điểm. Những phần
tử beta do phóng xạ thể (corps radio actifs) phát
ra quá mau lẹ với tốc độ 300.000 cây số trong một giây, bằng tốc độ ánh sáng.
Dầu trong một phần nhỏ
mọn nào trong vật chất cũng đều chứa một năng lực gần như vô tận. Nếu ta dùng
trọn năng lượng nguyên tử của một miếng than đá, thì có thể làm cho chiếc tàu
thủy khổng lồ và đẹp nhứt thế giới, là chiếc Queen Mary chạy
qua biển Đại Tây Dương bận đi và bận về.
Mới đây bác sĩ George
Clark, giáo sự Đại học Illinois, nổi tiếng khắp hoàn cầu về môn nầy, trong một
buổi giảng, có chiếu trên màn ảnh quang phổ tuyến X (spectre de rayon X) một
vệt lọ nghẹ, thì thấy hiện trên màn bạc vệt lọ đó, sự cấu tạo thiên nhiên kết
thành nhiều hình hình học (figures géométriques) rất mỹ thuật, như một nghệ
thuật kiến trúc tuyệt hảo.
Sự cân xứng toàn mỹ về
cách sắp đặt thứ tự các cấu tạo phân tử rất đúng theo toán học, có thể nói là
một kho tàng vô giá ẩn tàng trong vệt lọ.
Bởi đó, nhà bác học
nào bước sâu vào - mặc dầu rất ít - thế giới diệu huyền của vật chất, thảy đều
bị hấp dẫn say mê, yên lặng mơ mộng trước vẻ đẹp huy hoàng mà họ vừa thấy
thoáng qua giữa những hạt bụi cát.
Những khám phá về lý
học hạch tâm đã đánh đổ chủ nghĩa duy vật bằng sự giải thích minh bạch về vũ
trụ. Hơn nữa, sự khám phá quan trọng nầy làm tăng thêm sự tin tưởng vững chắc
và ghi khắc vào lòng con người sự thật, có Đấng Sáng Tạo. Theo các bậc thông
thái, thì không có vật chất nào vô giá trị, dẩu trong một phần nhỏ mọn của vật
chất đều có sự mỹ lệ huyền diệu.
Thuở xưa, người ta chỉ
trên vòm trời mênh mông đầy ánh sao nhấp nhoáng để chứng tỏ rằng có một Đấng
Cao Cả. Ngày nay, nhờ sự tiến triển mới mẻ của khoa thiên văn chẳng những làm
vững chắc bằng chứng mà còn thêm sự kính cẩn khi chiêm ngưỡng sự lạ lùng của
bầu trời.
Còn Đức Thượng Đế tỏ
sự uy nghiêm của Ngài trong những giải ngân hà, những Thái dương hệ và những Vũ
trụ tí hon như hạt bụi. Nhưng dường như sự uy quyền của Ngài ẩn tàng trong
những vi phân tử của hạt bụi còn nhiều hơn các vì sao trên trời.
Sự kết quả về nguyên
tử lý học chứng minh lời chân thành của Thánh Augustin hồi thế kỷ thứ tư, khi
Thánh tuyên bố : “Deus est maximum in minimis”. (Những vật hèn
mọn chừng nào thì sự uy quyền của Thượng Đế càng sáng tỏ thêm chừng nấy).
Bằng chứng là khi
nghiên cứu về nguyên tử, các nhà bác học thường gặp những định luật toán pháp
chỉ rõ rằng đường lối duy vật không thể cắt nghĩa được thế giới vô hình. Thay
lời cho khoa học, nhà thông thái Andrews Millikan tuyên bố : “Kẻ nào biết suy
xét đều có phương pháp riêng để tin tưởng có Thượng Đế”.
NGUYỄN TẤN TÀI
(Thuật theo Sélection
du Reader’s Digest)
viết theo quyển Truths
Men Live By của giáo sư J. O’Brein
(Trích Đạo Học số 11
ngày 15-8-1954).
Đọc đoạn nầy rồi tôi
tưởng quí huynh đã có một quan niệm rõ rệt về cái Trống Không của Ngũ Uẩn và có
thể nói : đã hiểu được phân nửa Tâm Kinh. Nhưng còn những điểm khác cần phải
giải rộng ra như :
3) Vì cớ nào Sắc bất dị
Không ?
Sắc là không, không là sắc, không chẳng khác sắc mà sắc chẳng khác không. Cái
gì là sắc đó là không, cái gì là không đó là sắc, cảm giác, tư tưởng hành vi và
trí thức cũng đều không. Bản chữ Nho : Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị
không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
SẮC TỨC LÀ KHÔNG,
KHÔNG TỨC LÀ SẮC, ĐÚNG VẬY.
Sắc đây là sắc tướng,
hình hài, mà hình hài do những nguyên tử cấu thành. Tới một ngày kia nó sẽ rã
ra và huờn lại những nguyên tử như trước. Nguyên tử vốn trống không thì
SẮC TỨC LÀ KHÔNG
Còn tại sao “Không tức
là sắc”
“Không” là những
nguyên tử, mà những nguyên tử ráp lại thành ra hình hài thì “Không tức là sắc”.
Nhưng ở đây tôi xin
ngừng lại một chút và nêu ra câu hỏi nầy :
“Tại sao những nguyên
tử trống không mà biết ráp lại đặng làm ra thân hình con người là một cái máy
hết sức tinh vi, có đủ các cơ quan cần yếu : mỗi cơ quan đều có phận sự riêng
biệt, không thấy có ai điều khiển mà vẫn chạy điều hòa, cơ quan nào công việc nấy,
không giống nhau mà không hề làm trái bổn phận của mình. Tất cả những công việc
tuy khác nhau song vẫn liên quan với nhau và hiệp sức lại đặng chăm lo một mục
đích mà thôi : ấy
là sự sống của con người ?
Tại sao con người lại
có hai giống : nam và nữ, khác biệt nhau từ hình vóc cho tới màu da, đen đỏ,
trắng vàng, mà ngôn ngữ lại bất đồng nữa ? Tại sao con người lại biết ham muốn,
biết tư tưởng và biết hành động ?
Nói rằng tinh trùng
hợp với noãn châu thành ra một người. Rất đúng không ai chối cãi được. Nhưng
tại sao lại có giống nam hay giống nữ, duyên dáng, đẹp đẽ hay xấu xí; tánh nết
và trí thức mỗi người đều mỗi khác mà cũng đồng bực với nhau. Đâu có thể giải
quyết vấn đề nầy bằng vật chất được.
Cho đến các loài vật
cũng vậy.
Tại sao một cái trứng
gà đập ra không thấy hình hài nào cả, mà đem ấp thì nở ra gà trống hay gà mái.
Vì cớ nào một cái hột gieo xuống đất thì mọc lên cây và trổ bông sanh trái, và
giống nào theo giống nấy? Đó là những sự bí mật của Tạo công mà dầu người
thường tài ba lỗi lạc đến đâu cũng chưa khám phá ra được.
Tại sao cái Không biến
thành cái Có, rồi cái Có lại hóa ra cái Không, và cứ nối tiếp nhau thế mãi từ
đời nầy qua đời kia không bao giờ dứt.
SẮC CHẲNG KHÁC KHÔNG,
KHÔNG CHẲNG KHÁC SẮC.
Còn hai câu : “Sắc
chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc” có hoàn toàn đúng một trăm phần trăm
hay không ?
Tôi xin nói liền : Hai
câu nầy chỉ đúng có phân nửa. Nói về bản tánh trống không của nguyên tử và hình
hài (sắc) thì sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc.
Nhưng về phương diện
thực tế thì sắc vẫn khác không.
Tôi xin đem ra vài thí
dụ thôi :
1.- Thí dụ thứ
nhứt : Nước.
Khi ta phân tách nước
thì ta thấy nó do hai thứ khí, dưỡng khí và khinh khí cấu thành.
Công thức của nó là H2 O.
Nhưng về hai phương
diện : tánh chất và hình thể, nước vẫn khác xa khinh khí và dưỡng khí.
Như thế thì làm sao
nói rằng : sắc bất dị không.
2.- Thí dụ thứ
nhì : Máu đen và dưỡng khí.
Dưỡng khí vô mình ta
biến đổi máu đen ra máu đỏ.
Tánh chất của máu đỏ
khác hẳn tánh chất của dưỡng khí, tức là sắc vẫn khác không.
Những thực phẩm của
chúng ta dùng như : lúa, bắp, đậu, mè, khoai, bí vân vân và tất cả những hình
hài mà chúng ta thấy đây đều khác hẳn với những nguyên tử đã cấu tạo chúng nó.
Cũng như có 12 nguyên
tố cấu thành nguyên sanh chất (Protoplasme) như :
1. Dưỡng khi (Oxygène)
2. Khinh khí
(Hydrogène)
3. Đạm khí (Azote)
4. Thán tố (Carbone)
5. Diêm (Soufre)
6. Lân (Phosphore)
7. Lục tố - Cờ lo
(Chlore)
8. Nạp – Natri
(Sodium)
9. Giáp – Kali
(Potassium)
10. Cái – Calci
(Calcium)
11. Mỹ
(Magnésium)
12. Sắt (Fer)
Tánh chất của nguyên
sanh chất không giống tánh chất của 12 nguyên tố đã kể ra trên đây là thành
phần của nó.
Thế nên trên thực tế
thì :
Sắc
vẫn khác không
Không vẫn khác sắc.
Tôi xin đem một đoạn
trong chương IV của quyển Trung Luận – Nadhyamika Çastra nói
về Ngũ Uẩn cho quí huynh xem rồi suy nghĩ.
NGŨ UẨN
Thế giới của hình hài
(sắc tướng) vốn trống rỗng như không gian (IV-5). Hơn nữa vật chất và hình hài
liên quan với nhau như nguyên nhân với hậu quả. Nói rằng hậu quả giống như
nguyên nhân, hay là hậu quả khác với nguyên nhân, hai cái đều sai cả : Tấm nỉ không
giống với những sợi chỉ đã dệt nó ra, nhưng mà nó cũng không khác với những sợi
chỉ đó (IV-6) Giảng lý của bản dịch chữ Nho.
Một vật đối với hình
hài cũng như tấm nỉ đối với những sợi chỉ đã dệt ra nó. Vậy thì cả hai, hình
hài và vật chất không thể nào được chấp nhận rằng “có thật” một cách hợp lý
được.
NHỮNG TRIẾT HỌC ẤN .
QUYỂN I TRUNG LUẬN CHƯƠNG IV – TRƯƠNG 223.
NGUYÊN VĂN CHỮ PHÁP.
Du reste, matérialité
et forme devraient êtredans le rapport de cause à effet. Or il est également
faux de dire que l’effet est identique à la cause et qu’il en est différent :
le drap n’est pas identique aux fils et il n’en est pas distinet.
(IV-6, Commentaire
chinois) – De même pour l’objet par rapport à la forme visuelle, donc ni forme
ni matérialité ne sont logiquement inadmissibles.
Les Philosophites
indiennes par René Grousset (Tome I Madhyamika Chapitre IV – page 223.)
----------
Đây là một lý
luận về một chất cứng rắn , không thể biến đổi cũng như cái vách tường hay cái
giỏ mây, do những cục gạch hay những sợi mây chẻ ra hợp thành.
Chớ lấy một thí dụ
khác như : đồ ăn và máu huyết, xương thịt thì ta thấy đồ ăn một khi biến thành
máu huyết xương thịt rồi không còn giống in như trước nữa. Nó đã biến tánh và
biến chất rồi. Máu huyết, xương thịt khác hẳn những đồ ăn đã tạo ra chúng nó.
MỘT ĐOẠN KINH LÀM CHO
NHIỀU NGƯỜI HIỂU LẦM
VỀ CÁI TRỐNG KHÔNG
TUYỆT ĐỐI.
Dưới đây là đoạn kinh,
kế đó, đoạn nầy đã làm cho hiểu lầm về cái Trống Không tuyệt đối và từ xưa đến
nay đã gây ra không biết bao nhiêu tai hại nhứt là bên Tây Tạng.
----------
Nầy Xá Lợi Tử : Bản
tánh vạn vật đều trống không, chẳng có chỗ khởi đầu19 cũng
chẳng có chỗ cuối cùng (Vô thủy vô chung). Chẳng có nhơ bợn, cũng chẳng có chi
chẳng nhơ bợn, chẳng có vẹn toàn, cũng chẳng có cái chẳng vẹn toàn, - Nầy Xá
Lợi Tử, vì vậy mà trong cái trống không nầy, chẳng có Sắc - Thọ - Tưởng – Hành
- Thức - Chẳng có Mắt – Tai - Lưỡi – Thân và Ý. Chẳng có sắc tướng, âm thanh,
hương vị, xúc giác và cảnh vật (pháp). Chẳng có mắt v. v. .20, chẳng
có ý, chẳng có cảnh, chẳng có ý thức. Chẳng có trí huệ, chẳng có vô minh, chẳng
có hết vô minh cho tới chẳng có già, chết, chẳng có hết già, chết, chẳng có
Khổ, Tập, Diệt, Đạo (bốn chơn lý). Chẳng có trí huệ, chẳng có chứng đắc, chẳng
có vô chứng đắc (Niết Bàn).
Tôi tin rằng Đức Long
Thụ mở Huệ nhãn quan sát sắc tướng tức là sự cấu tạo của hình dạng trước khi
giải về cái Trống Không ?
Ngài không nói trắng
ra được vì ngoại trừ những vị đắc đạo không ai hiểu nổi, Chẳng phải ở thời đó
mà thôi, cho tới đời nay, thế kỷ XX cũng vậy. Các vị đệ tử lớn của Phật như Ma
Ha Ca Diếp (Maha Kasyapa), Mục Kiền Liên (Nôgâllana) tên thật là Kolita
(Côlita) và Xá Lợi Phất (Çariputra) đều có huệ nhãn và thần thông. Bằng chứng
là : Một hôm Đức Xá Lợi Phất dòm thấy trong nước lọc của Ngài đầy dẫy những
sanh vật vì bình lọc của Ngài còn thô sơ. Ngài đành chịu chết khát. Đức
Phật hay được bèn quở Ngài : “Con muốn kính trọng sanh mạng mà thật sự con lại
sát hại sanh mạng”. Rồi từ đó Ngài cấm các đệ tử không được dùng thần nhãn xem
nước uống, chỉ được phép xem bằng con mắt phàm mà thôi.
Cái bình lọc làm cho
những vị quá rụt rè sợ sệt được an lòng.
Wieger – Le Bouddhisme
Chinois - Đạo Phật Trung Hoa – 431 – Beal, Catena, 56.
----------
Çariputra, employant
son “œil divin” constata que l’eau filtré est pleine de petites vies. N’ayant à
sa disposition que le filtre grossier des l’hommes, il se laissait muorir de
soif.Le Bouddha blâma son disciple “Tu veux respecter la vie et de fait tu la
détruis” et il défendit à ces moines d’examiner leur boisson avec d’autres yeux
que leurs yeux humains. Le filtre doit rassurer les plus timorés.
Wieger – Le Bouddhisme
Chinois 431 – Beal, Catena, 56.
----------
Ngày nay các vị mở
thần nhãn quan sát một cục đá hay một miếng sắt thì thấy nó trống rỗng.
Bây giờ xin nói tại
sao “Vô thủy vô chung”.
TẠI SAO VÔ THỦY VÔ
CHUNG ?
Bản tánh của vạn vật
vốn trống không. Đúng vậy. Sự phân tách nguyên tử đã chứng minh.
Còn tại sao chúng nó
vốn vô thủy vô chung ?
Muốn cho thật rành rẽ
thì phải nói vài lời về sự sanh hóa và sự tiến hóa Thái dương hệ chúng ta trong
ba giai đoạn sau đây :
a. GIAI ĐOẠN THỨ
NHỨT.
Chỉ có cội rễ của Tinh
thần là Đức Thái Dương Thượng Đế (Logos de notre Système solaire) và cội rễ của
vật chất là Nguơn Khí (Prakriti).
b. GIAI ĐOẠN
THỨ NHÌ.
Khi Đức Thái Dương
Thượng Đế dùng Nguơn Khí đặng lập Thái dương hệ nầy rồi thì trên các dãy Hành
tinh đều có những loài vật sanh sanh hóa hóa và tiến hóa từ hình thể cho đến
tinh thần.
Loài Tinh chất
(Essence élémentale) sau đầu thai qua loài Kim thạch.
Loài Kim thạch sau qua
loài Thảo mộc.
Loài Thảo mộc sau qua
hàng Thú vật.
Loài Thú vật sau làm
con người.
Con người sau thành
Tiên Thánh.
(Tôi không kể các hàng
Thiên thần và các loài khác).
Thời kỳ sanh hóa nầy,
tiếng Phạn gọi là Manvantara.
Nói tóm lại, Thái
dương hệ nầy sanh ra chỉ có một mục đích mà thôi là đưa các loài vật tiến tới
bực siêu phàm mà trước nhứt là con người.
c. GIAI ĐOẠN
THỨ BA.
Khi Thái dương hệ đoạt
được mục đích đã định sẵn cho nó rồi thì phận sự nó chấm dứt. Nó sẽ tan rã ra
nguyên tử như xưa.
Thời kỳ nầy tiếng Phạn
gọi là Pralaya, tiếng Pháp là Pralaya d’un Système solaire.
Linh hồn vạn vật đều
vô ở trong Hào quang của Đức Thái Dương Thượng Đế, người ta gọi là nhập vô tâm
của Ngài.
Thời kỳ nầy là thời kỳ
nghỉ ngơi, nó cũng dài bằng thời kỳ sanh hóa.
Tuân theo luật tiết
điệu, hết lúc nghỉ ngơi thì tới lúc sanh hóa, Đức Thái Dương Thượng Đế sẽ lập
một Thái dương hệ khác lớn hơn Thái dương hệ nầy nữa.
Rồi cứ tiếp tục như
vậy mãi không bao giờ dứt.
Thành Trụ Hoại Không;
trong đạo đức thường dùng bốn chữ nầy để ám chỉ sự sanh hóa, sự tiến hóa và sự
tan rã của một Thái dương hệ
VŨ TRỤ CŨNG TAN RÃ NHƯ
THÁI DƯƠNG HỆ CỦA CHÚNG TA.
Kinh Ấn Độ nói rằng :
Khi hết một năm là 360 ngày và 360 đêm của Phạn Vương (360 jours et 360 nuits
ou une année de Brahma). Tính ra phỏng định là 311.040.000.000.000 năm của trần
thế thì tất cả những Thái dương hệ trên không gian đều tan rã một lượt, tiếng
Pháp là Pralaya cosmique. Trời đất sẽ tối tăm mù mịt.
Linh hồn vạn vật đều
nhập vô Tâm của Đức Thượng Đế (Dieu, Logos Cosmique).
Tới chừng sanh hóa lại
thì ai ở địa vị nào trở về địa vị nấy, nhưng chỉ kém hơn trước một bực mà thôi.
----------
Vì mấy lẽ trên đây mà
trong kinh nói : Vạn vật vốn vô thủy vô chung - Bất sanh bất diệt.
CÂU NÓI VỀ TUYỆT ĐỐI
NẦY DÙNG VÀO CHỖ NÀO MỚI ĐÚNG.
“Vì vậy trong cái
trống không, chẳng có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, chẳng có Sắc, Thinh, Hương,
Vị, Xúc, Pháp; chẳng có Trí huệ, chẳng có Vô minh, chẳng có Khổ, Tập, Diệt,
Đạo, chẳng có chứng đắc Niết Bàn” (tóm tắt).
-------------
Khi mà chỉ có những
nguyên tử chớ chưa có Sắc tướng, chưa có xác thân nầy thì có chi gọi là bợn
nhơ, có chi gọi là trong sạch, có chi gọi là Vô minh, có chi gọi là Giác ngộ,
có chi gọi là Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Có chi gọi là Khổ, Tập, Diệt, Đạo, có chi
gọi là chứng đắc Niết Bàn bây giờ :
Nói cho đúng chơn lý :
Câu nầy phải để nói về hai giai đoạn nầy mà thôi.
Một là : Trước khi sanh hóa Thái dương hệ nầy.
Hai là : Sau khi nó đã tan rã, vạn vật đều Phản Bổn
Huờn Nguyên và nhập vô Tâm Đức Thái Dương Thượng Đế.
MẮC VÀO VÒNG TƯƠNG
ĐỐI.
Một khi đã tạo lập ra
Vũ trụ nầy và vạn vật đã thành hình rồi thì chúng sanh đều mắc vào vòng tương
đối. Hễ có Âm thì phải có Dương, có Tinh thần thì phải có Vật chất, có Tối thì
phải có Sáng, có Đêm thì phải có Ngày, có Nóng thì phải có Lạnh, có Lửa thì
phải có Nước, có Vui thì phải có Buồn, có Hiền thì phải có Dữ, có Trong sạch
thì phải có Bợn nhơ, có Cao thượng thì phải có Thấp hèn, có Thông minh thì phải
có Ngu dốt, có Sung sướng thì phải có Khổ cực, có Sanh thì phải có Tử, có
Nghiệp quả thì phải có Luân hồi v.v. . .
NHƯNG TRONG KINH TẠI
SAO LẠI NÓI MỘT CÁCH TUYỆT ĐỐI
Phải chăng Đức Long
Thụ muốn phá tan sự lầm lạc của con người ? Ngài biết rằng con người luôn luôn
đinh ninh rằng Xác thân là mình, ý muốn là mình, tư tưởng là mình – con người
đồng hóa với Ngũ Uẩn hay là Thân, Vía, Trí. Vì vậy mà muôn vàn tội lỗi của con
người đều do chúng nó gây ra và buộc chơn con người vào bánh xe Luân hồi từ đời
nầy sang qua đời kia.
Chúng nó án mắt con
người không cho thấy rõ Chơn lý hay là biến đổi sự thật như kiếng màu đeo mắt.
Con người tuân theo mạng lịnh của chúng nó sai khiến thay vì phải làm chủ chúng
nó, dạy bảo chúng nó đặng học hỏi cơ tiến hóa.
Thế nên Đức Long Thụ
mới nhấn mạnh về điểm chúng nó trống không : Sắc tức thị không. “Chúng nó không
phải thật là con người đâu, chúng nó là ảo ảnh chỉ để dùng trong một thời gian
thôi”. Ngài dùng một phương pháp cực kỳ mạnh mẽ đập vào tai như tiếng sét nổ
vang làm cho con người đương say mê trong cơn mộng đẹp giựt mình tỉnh dậy.
Ngài muốn bảo : chớ nên
tham luyến hồng trần, phải đánh đúng giá trị của sự vật. Phải tìm cái vĩnh viễn
trường tồn trong cõi đời phù du giả tạm nầy. Đó là bắt đầu phân biện sự Chơn và
sự Giả rồi sau theo đường chánh mà tiến tới mãi, từ thấp lên cao, từ chỗ tối
tăm đến nơi sáng suốt, từ cõi Tử đến cõi Trường sanh bất tử.
CÓ CHỔ NÀO CHỨNG MINH
NHỮNG LỜI GIẢI THÍCH
TRÊN ĐÂY CHĂNG ?
Có – Có bốn chỗ chứng
minh những lời giải thích trên đây :
Ấy là : hai chỗ trong
Tâm Kinh.
hai chỗ trong Trung Luận.
Hai chỗ trong Tâm
Kinh.
Hai chỗ trong Tâm Kinh
là hai câu nầy :
a.- Câu thứ
nhứt :Tất cả những chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều nhờ pháp Bát Nhã
Ba La Mật Đa mà đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
b.- Còn câu
thứ nhì là :Thần chú Bát Nhã Ba La Mật Đa : Đi, đi, đi qua bờ bên kia, dắt
qua bờ bên kia, Bổ đề Tát Bà Ha.
Trí huệ đáo bỉ ngạn.
a.- Về câu thứ nhứt.
Nếu nói rằng tất cả
đều trống không thì tu hành có ích lợi gì đâu ? Theo Đạo Bát Chánh làm gì cho
uổng công ? Thác rồi tan mất thì còn ai đâu thành Tiên, thành Phật? Có ai đâu
mà đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và nhập vào Niết Bàn ? Giáo Hội,
Tăng Già và Phật Pháp giống như một tòa nhà không có nền tảng vững chắc nên sụp
đổ tan nát hết.
Mà nương theo pháp Bát
Nhã trong Kinh cũng vô ích. Khi mà chung cuộc Niết Bàn là con số không, mà Phật
là con số không nữa ?
Nếu không có cái chi
tồn tại sau khi Ngũ Uẩn tan rã thì :
Một là : Con người sanh ra cõi Trần không có mục đích
gì hết ?
Hai là : Câu nhờ pháp Bát Nhã mà chứng quả Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mâu thuẩn với đoạn trên.
“. . . . Không có
chứng đắc Niết Bàn”.
Nhưng thật sự Bát Nhã
là Minh Triết, sáng suốt, nhờ pháp Bát Nhã mà đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, có nghĩa là nhờ Minh Triết mà thành Đạo. Bởi vì khi được Minh Triết
thì thấy rõ Chân tướng của vạn vật. Con người tự biết mình và không còn bị vật
chất ám ảnh được. Từ đó mới thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của nó mà mau thành
công đắc quả.
Vì mấy lẽ trên đây,
tôi tin chắc rằng Đức Long Thụ mới nhấn mạnh về sự Trống Không của Ngũ Uẩn đặng
thức tỉnh những người tu hành nào mà :
“Tuy Say CõiTỉnh, Chưa
Tan Lòng Phàm”
Chớ kỳ thật không có ý
muốn nói “Trống Không” một cách tuyệt đối làm cho người ta hiểu lầm và ngã
lòng.
------------
b.- Về câu thứ nhì :
Trí Huệ Đáo Bỉ Ngạn.
Bờ bên kia là Bờ Giác,
địa phận của những vị Siêu phàm nhập Thánh, lời bóng dáng nầy tôi đã nói sơ
lược trong chương thứ nhứt rồi.
Phải làm cách nào mới
qua được Bờ Giác ? Phải tu tâm luyện tánh cho thật tốt mới hội đủ những điều
kiện do Luật Trời qui định đặng chặt đứt 10 xiềng xích buộc trói con người vào
bánh xe Luân hồi, Phật giáo gọi là SAMYOJANA; ấy là :
1.- Sakkâya Ditthi :
Illusion du soi : Phàm nhơn là mộng ảo.
2.- Vichikitchtcha :
Doute ou Incertitude : Sự hoài nghi, không chắc ý, mơ hồ.
3.- Silabbata –
Paramâsa : Superstition : Tin dị đoan.
4.- Kamarâga :
Passions qui viennent des sens : Dục tình do giác quan sanh ra.
5.- Viyâpâda ou
Patigha : Colère : Giận dữ hoặc oán ghét, thù hận.
6.- Rouparâga : Désir
de vivre dans un monde avec formes : Muốn sống trong cõi hữu hình.
7.- Arouparâga : Désir
de vivre dans un monde sans formes : Muốn sống trong cõi vô hình.
8.- Mâna : Orgeuil :
Kiêu hảnh.
9.- Ouddhatchtcha :
Incapacité de sérénité mentale – Trí còn vọng động.
10.- Avidya :
Ignorance : Vô minh.
-------------
Phải đi từ :
1.- Bực Đệ tử thứ nhứt
– Tu Đà huờn (Sotapanna) 21 lên
2.- Bực Đệ tử thứ nhì
– Tư Đà hàm (Sakridagamin) rồi qua
3.- Bực Đệ tử thứ ba –
A na Hàm (Anagamin) sau mới tới
4.- Bực Đệ tử thứ tư –
La Hán (Arhat).
Bốn bực Đệ tử nầy Phật
giáo gọi là Tứ Thánh. Vị La Hán mới trừ được 5 chướng ngại đầu tiên.
Còn 5 chướng ngại chót
phải diệt xong mới thành một vị A sơ ca (Aseka) nghĩa là không còn làm đệ tử.
Người đời gọi vị A sơ
ca là Chơn Tiên.
Đối với người trần tục
thì vị A sơ ca là toàn năng, toàn thiện, toàn giác.
Ngài không còn cái chi
học hỏi trong Dãy Địa Cầu nầy nữa. Ngài đã được hoàn toàn giải thoát. Trong
Kinh gọi là đã qua tới bờ bên kia.
------------
Mới xem qua thì thấy
trong Tâm Kinh có hai đoạn phản đối nhau rõ rệt, không sao chối cãi được. Đoạn
trên mới nói “ Không có Sanh, Lão, Bệnh, Tử, Không có chứng đắc Niết
Bàn”.
Rồi đoạn kế đó lại quả
quyết : Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều nhờ đến pháp Bát Nhã Ba
La Mật Đa mà đắc quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và lại thêm câu
Đại Minh chú nữa.
Mâu thuẩn làm sao !
Nhưng sau khi đọc
quyển Trung Luận, nhứt là hai chương 24 và 5 thì mới thấy Đức Long Thụ có ý chỉ
đường Chánh cho những người còn si mê thì không cho hai đoạn trong Tâm Kinh là
mâu thuẩn với nhau nữa.
Thế nên trong bài tựa
tôi mới nói : Phải đọc quyển Trung Luận mới hiểu ý nghĩa “Trống Không” của Đức
Long Thụ đã giải bày.
Tôi xin trích vài đoạn
trong hai chương đó cho quí bạn xem.
Hai chỗ trong quyển
Trung Luận.
Vài đoạn trong hai
chương 24 và 5.
----------
(A)
Chương 24 (XXIV)
Giáo lý của Đức Phật
gồm hai phần : Phần Công truyền hay Hiển để cho quần chúng ; còn phần Bí truyền
hay là Mật để cho các vị Thánh.
----------
Khi bị bài xích đến
cực điểm thì các vị Phật tử của Phái Bảo Thủ đều phẩn nộ. Họ hỏi Phật :
Nếu cả thảy đều trống không, ý niệm Sanh và Diệt vô căn cứ thì Tứ Diệu Đề và
tất cả những gì Phật đã dạy đều là hư ảo phải chăng ? (XXIV – I)
Khổ - Tập – Diệt – Đạo
và Nhân Quả , nói tóm lại, tất cả giáo lý đều mất hết ý nghĩa của nó (XXIV.
2-3). Thế thì Giáo Hội Tăng Già và nền Đạo đều sụp đổ tan tành rồi (XXIV. 4-5).
Đức Long Thụ bèn trả lời với những người công kích Ngài như vầy :
“Giáo lý của Đức Phật
gồm hai phần : Phần Công truyền hay là Hiển để cho quần chúng, còn Phần Bí
truyền hay là Mật để cho các vị Thánh. Đối với người thường, những người dự
thính (Thinh văn) người ta đã gọi Phái Nam Tôn như thế, thì Đức Phật dạy Chơn
lý Tiểu thừa vừa sức hiểu biết của họ. Đối với những người đã được Điểm
đạo thật sự, thì Ngài dạy Chơn lý Đại thừa : Chỉ có Chơn lý nầy mới giải
được ý nghĩa cao siêu của kinh kệ (XXIV .8-9). Không thấu được nghĩa lý huyền
diệu của Phật Pháp thì không thể nào nhập vô Niết Bàn được. (XXIV .10)
(Những Triết
học Ấn. Quyển I Trung Luận – Chương XXIV, trương 258).
Nguyên văn chữ Pháp
-----------
L’Enseignement du
Bouddha est double, exotérique pour le monde (Loka Vyavâhara), ésotérique pour
les Saints (Paramartha Satya),
----------
Parvenu à ce point de
sa critique, NAGARJUNA ne peut se dissimuler qu’il a scandalisé les Bouddhistes
Traditionnalistes. Si tout est vacuité, si l’idée de phénomène (La “production
et disparition”) est sans fondement; les Quatre Vérités Saintes (Satya)
prêchées par le Bouddha sont aussi irréelles que tout le reste (XXIV-1). La
leçon bouddhique sur la douleur, son origine et son extinction, le lien de
causalité qui du mérite et du démérite de l’acte (karman) fait sortir le
fruitde la rétribution (Phala), bref le dogme tout entier, perd sa
signification (XXIV-2-3) – C’est l’évanouissement de la réligion (Saddharma) et
de l’Eglise elle même (Sangha) (XXIV-4-5).
A ces attaques,
Nagârjuna répond que l’Enseignement du Bouddha est double, éxotérique pour le
monde (Loka Vyavahâra), ésotérique pour les Saints (Paramartha Satya).
Aux simples, aux
auditeurs (Çravaka) comme on appelle les Hinayanistes, le Bouddha est Venu
enseigner les Vérités du “ Petit Véhicule” suffisantes pour leur entendement;
aux vrais Initiés. La Vérité du Mahayana qui seul donne le sens profond des
Sutras (XXIV 6-7) . Sans avoir pénétré cette signification supérieur de la
Doctrine Bouddhique on ne saurait atteindre le Nirvana (XXIV -10).
(Les Philosophies Indiennes. Tome I Chapitre XXIV – page 258.)
--------------
Đọc câu trả lời của
Đức Long Thụ, quí bạn chú ý tới ba điểm nầy :
1.- Điểm thứ nhứt : Đây là lần đầu tiên trong Lịch sử Phật
Giáo, Đức Long Thụ tiết lộ công khai cho người ta biết : Đức Phật có hai khoa :
Khoa Công truyền hay là Hiển để dạy quần chúng , còn Khoa Bí truyền hay là Mật
để dạy những vị Thánh.
2.- Điểm thứ nhì : Quả có những sự Điểm đạo và những vị đã được
Điểm đạo thật sự gọi là những vị Thánh.
3.- Điểm thứ ba : Chỉ có Chơn lý Đại Thừa mới giải được ý
nghĩa cao siêu của kinh kệ.
Mà Chơn lý Đại Thừa là
cái chi ? Ấy là Chơn lý do Khoa Minh Triết Thiêng Liêng chỉ dạy, người ta cũng
gọi Khoa nầy là Khoa Huyền Bí Học. Duy có Minh Triết Thiêng Liêng mới giải
nghĩa được.
Một là : Lý do Sanh
Hóa Thái dương hệ nầy.
Hai là : Tại sao có
những Tôn giáo ra đời.
Ba là : Sự ích lợi của
việc Tu hành và làm cách nào để được Điểm Đạo.
(B)
Chương 5
Lục Đại - Thực Thể và
Phi Thể.
Nếu vạn vật không có
thật thì phải kết luận là “không có gì hết, là hư vô”. Phải không ? Đức Long
Thụ trả lời một cách khéo léo rằng : “Không phải như thế đâu. Nếu Thực Thể
không có thì Phi Thể lấy gì mà được gọi là Phi Thể chứ ? Một sự phủ nhận đặt ra
là khi nào có đối lập, tương phản với một sự xác thực. Một sự xác thực hoàn
toàn bị loại ra rồi thì sự phủ nhận không còn được dựa vào đâu gọi là hợp lý
nữa . (V. 6-7)
. . . . Người ta thấy
rằng khi Đức Long Thụ đi tới ranh giới Hư vô Chủ nghĩa thì Ngài dừng bước. Rồi
thình lình Ngài quay lại. Đứng giữa con đường Hư vô Chủ nghĩa và Thực Thể Luận,
và vì lẽ nầy mà Trường của Ngài là Trường Trung Đạo (Madhyamika).
Nhưng còn một lối
thoát nữa mà cũng bị ngăn cấm.
Nếu bác bỏ Thực Thể và
Phi Thể thì ít ra cũng phải có một chủ nhân biết tư tưởng, nó mới vừa bác bỏ
Thực Thể và Phi Thể đây mà. Đức Long Thụ trả lời rằng : Cũng không có nữa. Nếu
quả có thật chủ nhân biết tư tưởng thì Y phải ở trong Thực Thể hay là ở trong
Phi Thể.
Nhưng đã nói : Thực
Thể và Phi Thể không có thật thì lẽ dĩ nhiên chủ nhân biết tư tưởng cũng không
có thật vậy. (V-6).
(Những Triết Học Ấn -
Quyển I – Trung Luận , Chương V – trương 225)
Nguyên văn chữ Pháp.
Chapitre V
Les six Elements ou
Dhâtu
L’Être et le non être
---------
Puisque l’existence
des choses est insoutenable, faut il conclure, au néant ? En aucune
manière répond ingénieusement Nagârjuna, car si être n’est pas, de quoi le non
êtreserait il le non être ? Une négation ne se pose qu’en s’opposant à un
positif – Le positif, une fois radicalement éliminé, le négatif n’a pas de
prise logique. (V. 6-7)
Comme on le voit,
Nagârjuna, parvenu au bord du nihilisme, se replace à mi chemin du nihilisme et
de l’ontologie - C’est en ce sens d’ailleurs que revindique le titre d’Ecole
du chemin milieu. (Madhyamika)
Mais il reste encore
une échappatoire à interdire. Si on réfute l’être et le non être, du moins
existe t’il quelque chose; le sujet pensant qui vient de réfuter être et non
être.
Pas même, répond
Nagârjuna, car si le sujet connaissant existait, il devrait être dans être ou
dans le non être : puisque ces deux états ont été déclarés inadmissibles, le
sujet pensant l’est aussi (V-6).
Les Philosophies
Indiennes – Le Madhyamika Çastra
Chapitre V. page 225.
------------
Đức Long Thụ đã bảo :
Không có Thực Thể không có Phi Thể, không có Hư vô, không có Sắc tướng. Vậy thì
có cái chi bây giờ ?
Nếu không có chi hết
thì Đức Long Thụ nói tới Khoa Công Truyền và Khoa Bí Truyền của Đức Phật làm gì
vô ích, vì chúng vẫn là Không Không mà câu : Không thấu được ý nghĩa huyền diệu
của Phật Pháp thì không thể nào nhập vô Niết Bàn được (XXIV .10). Cũng phản đối
đoạn Thực Thể và Phi Thể.
Hoàn toàn là vô lý,
hoàn toàn là mâu thuẩn.
------------
Vô Cực Bất Khả
Tri 22
Phải chăng Ngài muốn
nói : chỉ còn có một cái gì mà ta không thể tưởng tượng được; không thể hiểu
được; không thể phân tách được; không thể nói được vì nó cao hơn sự hiểu biết
con người quá đỗi.
Ấy là sự Sống Đại
Đồng, Vô Thủy Vô Chung, các nhà Hiền triết Ấn gọi là Cái Đó, “Cela” và lặng lẽ
tôn kính mà thôi. Người ta gọi “Cái Đó” là “Vô Cực Bất Khả Tri”.
Khi có một người nào
muốn dùng lời nói đặng cắt nghĩa sự Sống nầy thì các Ngài bảo, Neti ! Neti !
Không ! Không ! Nghĩa là chẳng phải như thế đâu : Không đúng đâu. Đứng nói vô
ích.
Bàn đến Vô Cực thì
không khác nào lấy ngao lường biển. Vũ trụ bao la, bát ngát, vô tận, vô biên.
Đầu óc ta bé nhỏ thế nầy mà muốn thâu vũ trụ vô đó thì làm sao được. Ngày nào
ta chưa ra khỏi vòng tục lụy thì ngày đó chắc chắn chưa có ai chỉ cho ta phương
pháp tu luyện đặng khám phá lần lần những sự bí mật của Tạo công. Sự hiểu biết
của ta không khác một giọt nước trong biển cả. Nhưng tiếc thay. Con người
thường quá ư tự phụ về tài sức của mình.
Trong cuốn Ánh Sáng Á
Châu (La Lumière de l’Asie) có thuật bài của Đức Phật thuyết cho vua cha là
Tịnh Phạn Vương nghe như vầy (Xin lấy đoạn đầu thôi)
Om ! A mi tai da
(Amitaya) Chớ nên dùng lời nói mà đo cõi vô biên hay là nhún dây tư tưởng vào
cõi vô tận. Người hỏi cũng lầm mà người trả lời cũng lầm vậy. Đừng nói chi hết.
Kinh sách dạy rằng :
Trước khi vạn vật sanh ra thì tối tăm mù mịt. Chỉ có một mình Phạn Vương trầm
tư mặc tưởng. Nhưng mà đừng suy gẫm đến Phạn Vương hay là lúc Hồng Mông sơ
khởi. Con mắt phàm không thể nào thấy Ngài hay là một ánh sáng nào cả. Cái Trí
người phàm không thể nào hiểu được, những bức màn lần lượt vén lên, hết cái nầy
rồi tới cái kia. Phải có những bức màn, sau những cái nầy thì tiếp theo những
cái khác. . .
Bao nhiêu đây cũng đủ
cho ta suy nghĩ, vì Phật và Đức Long Thụ muốn dạy chúng ta tập tánh Phân biện
và Khiêm tốn đặng mau trở nên sáng suốt vậy.
-----------
TẠI SAO THẦN CHÚ BÁT
NHÃ BA LA MẬT ĐA LÀ ĐẠI MINH CHÚ,
VÔ THƯỢNG CHÚ.
Tưởng cũng nên tìm
hiểu coi tại sao trong Kinh gọi Thần chú Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Minh Chú,
Vô Thượng Chú.
Thần chú hay là Chơn
ngôn vốn do những vị đắc Đạo đặt ra. Các Ngài dùng Huệ nhãn lựa những tiếng
rung động mạnh mẽ rồi ráp lại cách nào thành một câu mà khi đọc đến thì chúng
sanh ra một hiệu quả nhứt định.
Tôi nói : rung động
mạnh mẽ bởi vì tất cả trong Trời Đất mọi vật đều rung động, có cái mau, có cái
chậm. . .
Vũ trụ nhờ sự rung
động mà thành hình rồi sau cũng bị sự rung động mà tan rã.
Sự hiệu nghiệm của
Thần chú hay Chơn ngôn nhiều hay ít cũng tùy thuộc sự rung động mạnh mẽ hay yếu
ớt.
Tuy nhiên phải biết
cách đọc thì mới có hiệu nghiệm. Đọc sái giọng thì hiệu quả rất ít. Chơn ngôn
hay Thần chú tiếng nước nào thì phải đọc theo tiếng nước đó. Nếu dịch ra tiếng
nước khác thì nó không còn linh nghiệm nữa.
Tỷ như câu Thần chú
Bát Nhã Ba La Mật Đa theo tiếng Bắc Phạn là Gate ! Gate ! paragate
parasamgate ! Bodhi ! Svâha !
Âm ra là Yết
đế ! Yết đế ! Ba la Yết đế ! Ba la tăng Yết đế ! Bồ Đề ! Tát Bà Ha !
------------
Tôi không biết các nhà
sư Trung Hoa đọc làm sao, nếu đọc như chữ viết Yết đế ! Yết đế ! thì e cho sự
hiệu nghiệm giảm đi rất nhiều.
Mà tại sao lại gọi nó
là Đại Minh Chú, Vô Thượng Chú ? Phải chăng nó có nghĩa là dắt con người sang
qua bờ giác cho nên người ta mới coi nó là cao hơn hết.
Thật ra bên Ấn Độ có
một câu chú cao tột bực, không có câu chú nào sánh kịp. Ấy là câu Đại Minh Chú :
Om Mani ! Padmé Hum !
Dịch ra từ tiếng là :
Om ! của quí trong bông sen ! - Không có chi là lạ.
Trong Kinh Phật chữ
Việt là :
Án Ma ni bát di Hồng !
Sự rung động của câu
kinh nầy hết sức mạnh, sự linh nghiệm của nó thật phi thường. Tùy theo trình độ
tiến hóa về đường tinh thần của mình, người đọc nó có thể bảo hộ một Nước, một
Xứ, một Tỉnh, một Thành, một Huyện, một Xóm, một Làng v.v. . .
Nhứt là ở bên Tây Tạng
người ta thường dùng nó để xua đuổi tà ma.
Nhưng xin hãy thận
trọng ! Chỉ nên đọc nó khi tấm lòng thanh tịnh mà thôi. Sau cơn nóng giận hay
là dục tình sôi nổi đừng niệm nó mà kêu tai họa vào thân, bởi nó là cây gươm
hai lưỡi, làm lợi cũng được mà làm hại cũng được.
Thần lực của nó sanh
ra tăng cường tánh tốt cũng như tánh xấu, chớ không có phân biệt trắng đen.
Người nào tánh tình
tốt niệm nó thường thì càng ngày càng tốt, còn người nào tánh tình xấu, niệm nó
thường thì càng ngày càng trở nên xấu tệ.
Chớ nên lấy làm lạ về
điều nầy. Thần lực cũng như nước mưa. Mưa xuống lúa lên tươi tốt mà cỏ cũng mọc
xanh rì vậy; chớ không phải nước mưa chỉ nuôi dưỡng những cây cối hữu ích mà
thôi.
(Từ trang 109
theo sách, ghi chú để tiện việc xem lại thôi)
CHƯƠNG THỨ TƯ
--------
Còn Năm vấn đề nữa
không kém phần quan trọng liên quan đến Tâm Kinh, tưởng cũng nên bàn qua.
1.-Có Linh hồn hay
không có Linh hồn ?
2.- Sự hiểu lầm Tâm
Kinh.
3.- Trên không gian
không có chỗ nào gọi là trống rỗng tuyệt đối.
4.- Ý nghĩa của danh
từ Phật.
5.- Chớ nên làm nô lệ
kinh sách.
1
CÓ LINH HỒN HAY KHÔNG
CÓ LINH HỒN
Sự đắc Đạo thành chánh
quả liên quan đến vấn đề Linh hồn. Vậy ta nên tìm kiếm trong kinh sách Phật coi
có đoạn nào nói về Linh hồn hay không ? Mặc dầu ta thường nghe nói : Phật giáo
không công nhận ngoài Ngũ Uẩn có Linh hồn.
Thật sự là chúng ta
không phải sanh đồng thời với Phật mà dám quả quyết Phật dạy “Không có
Linh hồn” . Người đời sau chỉ tin theo Kinh sách truyền lại chớ ít khi
chịu suy nghĩ cho sâu xa, coi cái nào hữu lý, cái nào vô lý.
Hồi Phật còn tại thế,
Ngài chỉ thuyết Pháp chớ không có viết một chữ nào cả.
Sau khi Ngài bỏ xác
một ít lâu thì Phật giáo đã chia ra 18 phái khác nhau rồi.
Tới kỳ Phật giáo Hội
Nghị lần thứ Ba, hồi đời Vua A Dục Đạo Vương, lối năm 252 hay 254 trước Chúa
Giáng Sinh, người ta mới bắt đầu viết ra ba Tạng Kinh, chớ hai lần Hội Nghị đầu
tiên, người ta chỉ lập miệng mà thôi. Tới nay 2500 năm đã qua, làm sao tránh
được cái nạn tam sao thất bổn và thêm bớt trong đó. Tôi xin kể
bốn chuyện sau đây trích trong kinh sách Phật chứng chắc có Linh hồn đi đầu
thai.
I
Chuyện thứ nhứt
Linh hồn đi đầu thai
từ loài nầy qua loài kia.
Trong cuốn Phúc Âm của
Đức Phật trương 127 dưới bài “Mục đích” có đoạn nầy : trích
trong cuốn Phạm Võng Kinh VI -29 (Mahavagga - VI-29)
MỤC ĐÍCH
Đức Phật nói với các
Tỳ Kheo :
“Linh hồn đi đầu thai
từ loài nầy qua loài kia xuyên qua tất cả những hình dạng từ đá sỏi, thảo mộc,
cầm thú, và những người tính tình khác nhau, cho tới khi nó lên tới bực toàn
giác là Phật”.
LE BUT
Bouddha parla en ces
termes aux Bishous –
“L’âme émigre à
travers toutes les formes depuis la pierre en passant par les plantes et toutes
les espèces de corps animaux et dans les hommes de divers caractères jusqu’à ce
qu’elle arrive à l’Illumination parfaite dans le Bouddha.
Evangile
du Bouddha par Carus page 127.
-----------
II
Chuyện thứ nhì
Người tu hành tấm lòng
Trong Sạch
thì biết được Mấy Kiếp
trước của mình.
Trong cuốn Kinh
SAMANNAPHALA SUTTA DU DIGHA NIKAYA có thuật mấy lời Phật nói với một ông Vua
như vầy :
Một người kia từ giả
làng của anh ở đặng đi qua một làng khác nữa. Chừng anh trở về làng cũ anh có
thể nói trong lòng rằng : Thật là tôi đi từ làng tôi ở cho tới làng kia.Tôi đi
cách nầy, tôi ngồi cách kia rồi từ đó tôi đi qua làng khác, tôi cũng ngồi, cũng
đứng như vậy, rồi cũng là tôi trở về làng cũ của tôi đây . . .
Tâu Hoàng Thượng !
Người tu hành tấm lòng trong sạch thì biết được mấy kiếp trước của mình. Anh
nhớ lại rồi anh nói : “Tôi sanh vào dòng nào, tôi tên chi, tôi ở chốn nào, tôi
ăn uống cách nào, tôi chịu đau khổ hay là tôi vui vẻ bao nhiêu lần. Rồi chính
là tôi ở chỗ đó đầu thai lại đây vậy”.
III
Chuyện thứ ba
Lời nói bóng dáng về
vườn Kỳ Viên
Đức Phật nói : “Hỡi
các Đệ tử ! nếu có người nào vô vườn Kỳ Viên, chỗ chúng ta đương ở đây, đặng
lấy những cây cỏ, nhánh lá đem về chụm, các con có nói rằng : Anh ấy bắt các
con và đốt các con hay chăng ?
Các Đệ tử bèn thưa :
Bạch Phật, cây cỏ nhánh lá không phải là các con mà cũng không phải thuộc về
các con nữa.
Phật bèn nói : Cũng
thế đó, các con hãy loại ra ngoài cái gì không thuộc về các ocn đi. Cái đó là
nghĩa chi ? Ấy là các con phải loại ra xác thân, sự cảm xúc, quan
niệm, sự hoạt động của cái Trí và sự hiểu biết”.
Xin hỏi : Mấy cái bị
loại ra nầy có phải là Ngũ Uẩn không ? Còn các con có phải là những Linh hồn
không ?
IV
Chuyện thứ tư
Bút ga la (Pudgala),
Người mang gánh nặng.
Trường của những Hoắt
Si bu tri da (Vatsiputryas) dạy như vầy :
“Ta sẽ dạy các ngươi
cái gánh nặng, người mang gánh nặng, khi cất gánh nặng lên vai và lúc để gánh
nặng xuống. Gánh nặng là Ngũ Uẩn, người mang gánh nặng là Bút ga la (Pudgala),
một người nào đó : Ấy là một vị Sa môn, tên chi, thuộc về dòng giống nào, sống
được bao nhiêu tuổi, . . .
Cất gánh nặng lên vai
tức là khát khao, tức là ham muốn sự vui vẻ của kiếp sống và lúc không còn sống
nữa 23 , để gánh nặng xuống tức là dứt hết sự khao khát.
Để gánh nặng xuống và
không cất gánh nặng khác lên, thì dứt được cội rễ sự khao khát, Bút ga la nhập
vào cõi Niết Bàn.
Hai bài nầy trích
trong quyển Giáo lý và Triết lý Đạo Phật của ông Louis de la
Vallée Pouissin trương 100.
(Le dogme et la
philosophie du Bouddhisme par Louis de la Vallée Pouissin page 100)
-------------
Đọc bốn bài nầy thấy
chứng cớ rõ ràng quá không có chi phải bình luận cả. Nhưng nói thì phải nói cho
hết : Thuyết Ngũ Uẩn phản đối thuyết Luân hồi, Nhân Quả.
------------
Thuyết Ngũ Uẩn phản
đối thuyết Luân Hồi, Nhân Quả.
Phật Giáo dạy Luân
Hồi, Nghiệp Quả tức là mặc nhiên công nhận có “một cái gì” tồn
tại sau khi con người bỏ xác. “Cái gì đó” người ta gọi là Linh
Hồn hoặc Chơn nhơn hay cái chi chi cũng được, kiếp sau đầu thai lại và lãnh lấy
hậu quả những việc của mình đã làm.
Như Phật Giáo, nhứt là
phái Nam Tôn cho rằng chỉ có Ngũ Uẩn làm ra con người, thác rồi Ngũ Uẩn tan
mất, kiếp sau sự tham sống và sự mến đời (Trishna – Tanha) rút Ngũ Uẩn khác làm
ra một người mới, và người mới kiếp nầy phải trả những quả của người kiếp trước
gây ra.
Nếu suy nghĩ một chút
thì thấy điều nầy rất phi lý và rất bất công.
Khi còn sanh tiền thì
sự tham sống và sự mến đời ở trong Ngũ Uẩn, đúng vậy. Nhưng khi con người thác
rồi thì Ngũ Uẩn tan rã. Lẽ tự nhiên thì sự tham sống và sự mến đời cũng phải
theo Ngũ Uẩn mà tiêu mất vậy. Nếu nói chúng nó còn thì chúng nó ở chỗ nào và
nương tựa vào đâu đặng kiềp sau chúng nó rút Ngũ Uẩn khác đặng làm ra một người
mới.
Hơn nữa, người kiếp
sau nầy có liên lạc chi với người kiếp trước đâu mà bắt buộc y phải thanh toán
những mối nợ nần do người kiếp trước đã gây ra ? Như thế thì sự công bình ở đâu
?
Không còn ai cho là
Thiên Địa Chí Công nữa.
Rõ ràng là thuyết Ngũ
Uẩn mâu thuẩn với thuyết Luân Hồi, Nghiệp Quả, và nếu công nhận thuyết nầy thì
phải bác bỏ thuyết kia.
Ở đây tôi muốn nói
thêm rằng thuyết Ngũ Uẩn giải bày như thế thì không cắt nghĩa được tại sao con
người lại chia ra hai phái nam và nữ. Ngũ Uẩn nào làm ra phái nam, Ngũ Uẩn nào
làm ra phái nữ ? Tại sao sự khôn ngoan và tánh tình của các giống dân da đen,
da vàng, da đỏ, da trắng đều khác biệt nhau ? Tại sao lại có những người nhớ
lại kiếp trước ? Nhứt là những trẻ không học với ai mà thông minh tuyệt thế gọi
là thấn đồng. Tỷ như thần đồng đời nay là cậu Kim Ưng Yong sanh tại Hán Thành
ngày 7-3-1963 có đăng hình trong Thế giới Tự Do số 10 tập XV, trương 36. Mới có
3 tuổi đầu mà cậu nói trôi chảy tiếng Anh, tiếng Đức, biết làm văn, biết vẽ
tranh, biết viết nhật ký, biết làm những bài Vi phân toán và Tích phân toán một
cách dễ dàng.
Nếu cho rằng phải học
mới giỏi thì cậu Kim Ưng Yong nầy học với ai ? Chẳng lẽ hồi còn ở trong bụng
mẹ.
Không công nhận có
Linh hồn đi đầu thai thì không thể giải thích cho hữu lý trường hợp của cậu Kim
Ưng Yong nầy.
SỰ HIỂU LẦM TÂM KINH.
Nếu cứ đinh ninh rằng
mọi vật đều trống không như Tâm Kinh đã nói thì người ta sẽ theo duy vật chủ
nghĩa, những tội ác sẽ đầy dẫy khắp thế gian, những tai hại sẽ không lường được
như hiện nay ta đã thấy rồi về thuyết Vô thần.
Từ xưa đến nay trong
các hàng Phật tử những người hiểu lầm về Tâm Kinh không phải là ít.
Ông Jean Marquès
Rivière có qua Tây Tạng học đạo; ông có chứng kiến điều đó rồi, nên có viết
đoạn nầy trong bài “Thuyết Trống Không của Phật giáo Bắc Tôn” đăng
trong Thanh Liên tạp chí số 4 Juin 1929 (Tháng 6 năm 1929).
-----------
Cõi đời ta thấy thật
ra là ảo ảnh, nó phải biến đi đặng nhường chỗ cho một cái khác. Tôi biết thái
độ nầy rất nguy hiểm cho người chưa được giải thoát không biết là bao nhiêu khi
anh đứng trước cuộc đời.
Những gương thí dụ
không thiếu gì và vẫn có những chuyện như thế trong những vị Lạt Ma bên Tây
Tạng. Viện lẽ là họ đã cao minh tột bực cho nên họ tha hồ tự do phóng túng,
kiêu sa, dâm dật . . . Quả thật là con đường Tả Đạo Bàn Môn.
Nguyên văn chữ Pháp
Ler monde
nanifesté doit disparaitre dans son illusoire réalité pour faire place à
autre chose 24. Je sais combien cette attitude devant la vie
est dangereuse pour le non libéré; des exemples abondent et il y en a des
histoires à ce sujet même au Tibet parmi les Lamas. Sous prétexte d’être au
delà de la sagesse, on se permet toutes fantaisies et toutes licences; c’est
véritablement alors une voie de gauche.
(La science de Vide dans le Bouddhisme du Nord)
Le Lotus Bleu – juin 1929 N0 4
Ông J. Marquès Rivière
còn nói thêm rằng : Ông có gặp Đệ tử của phái Trung Đạo (Madhyamika).
Theo ông thì không ai
sùng Đạo hơn họ, không ai thờ phụng những vị Thần Thánh và những vị Bồ Tát hơn
họ. Ông quả quyết rằng Trường Trung Đạo là một lý tưởng cao siêu, tốt đẹp vô
cùng.
Ta hãy thử nghĩ điều
nầy, nếu tới ngày nay mà phái Trung Đạo còn được như thế thì nói rằng : Đức
Long Thụ dạy thuyết Trống Không là không đúng với sự thật
3
HIỆN GIỜ TRÊN KHÔNG
GIAN KHÔNG CÓ CHỖ NÀO
ĐƯỢC GỌI LÀ TRỐNG RỖNG
TUYỆT ĐỐI
Ta ngước mặt dòm lên
trời, ta thấy một khoảng trống rỗng, ngoài ra vài cụm mây bay và chim chóc thì
không còn gì hết; nhưng sự thực thì thế nào ?
Khoảng trống không nầy
chứa đựng những chất khí mà ta đã biết như : khinh khí, dưỡng khí, thán khí,
đạm khí và vài chất khí khác như Xénon, Krypton, Argon, Hélium mà có lẽ còn cả
chục thứ khí nữa khoa học chưa khám phá ra.
Ngoài ra còn :
a) –
4 chất dĩ thái Hồng trần (4 éther physiques)
b) -
chất khí làm ra cõi Trung giới hay Dục giới.
c) -
chất khí làm ra cõi Thượng giới hay là cõi Trí tuệ.
d) -
chất khí làm ra cõi Bồ Đề.
e) -
chất khí làm ra cõi Niết Bàn.
f) -
chất khí làm ra cõi Đại Niết Bàn.
g) -
chất khí làm ra cõi Tối Đại Niết Bàn.
Mà chỉ có bao nhiêu đó
thôi sao ?
Không ! Còn nữa : Khắp
bảy cõi Trời, từ cõi Tối Đại Niết Bàn cho tới cõi Trần, chỗ nào cũng có một số
nhân vật ở, tùy theo trình độ tiến hóa của mình. Mấy vị ấy có những nhiệm vụ
riêng phải lo lắng cũng như chúng ta ở cõi Trần thực hành những công việc khác
biệt nhau vậy. Người ta gọi mấy vị ấy là Thiên Đế, là Phật, là Thánh, là Tiên,
là Thiên thần, là Tiểu thần, Ngũ hành v. v. . . Còn có những loài khác mà con
người không thể tiếp xúc được nên không biết phải gọi là chi.
Có bạn sẽ hỏi : Tại
sao chúng ta không thấy mấy vị ấy ? Điều nầy rất dễ hiểu. Ấy tại chúng ta chưa
tu luyện đến mức khai mở được những quyền năng còn tiềm tàng trong mình gọi là
Thần nhãn, Thiên nhãn, Huệ nhãn, Phật nhãn đặng quan sát những cõi vô hình chớ
không phải “tại không có”, nên chúng ta không thấy. Con mắt phàm
chỉ để xem nhân vật ở cõi phàm mà thôi, nhưng nó còn yếu lắm, có nhiều vật ở
cõi Trần nó cũng không thấy như gió, như vi trùng, bụi bặm và các thứ khí. Nếu
bảo : thấy mới tin thì chắc chắn người ta không công nhận có vi trùng, nói chi
tới vi khuẩn. Có một chuyện có thật mà người chưa học Đạo khó tin được là giờ
phút nào hồn ma ở cõi Trung giới cũng đi ngang qua xác thân ta mà ta không hay
biết chi cả, bởi vì chất khí làm cõi Trung giới chun thấu qua chất khí làm ra
cõi Trần, như chất dĩ thái chun thấu qua chất đặc, chất lỏng và chất hơi vậy.
Nói tóm lại, là trong
thời kỳ sanh hóa nầy, khắp Vũ trụ không có một chỗ nào được gọi là trống rỗng
tuyệt đối cả, chỗ nào cũng có sắc tướng, cũng có sự sống, cũng có sự hoạt động.
Mà dầu cho tới một
ngày kia Thái dương hệ nầy đúng thời kỳ tan rã đi nữa, cũng vẫn còn Nhị
Nguyên là :
1.- Cội Rễ của
Tinh Thần là Đức Thái Dương Thượng Đế và
2.- Cội Rễ của
Vật Chất là Hổn Nguơn Nhứt Khí (Mulaprakriti), chớ không phải là không
có gì hết.
PHẬT LÀ GÌ ?
Buddha – Danh từ Phật
có hai nghĩa :
Một là : Giác – Sáng suốt.
Hai là : Đấng Chí Tôn chủ tể Cung thứ nhì trên
Thiên Đình.
Trong những Kinh sách
Đạo đức, danh từ Phật vẫn dùng theo nghĩa thứ nhì.
Đức Phật cai quản Cung
thứ nhì là Cung Đạo Đức và Giáo Dục. Ngài đã được 8 lần Điểm Đạo. Ngài là Giáo
Chủ các vị Tiên Thánh và Thiên Thần. Công việc của Ngài xuống tới cõi Bồ Đề mà
thôi. Còn ở ba cõi dưới Ngài giao cho Đức Bồ Tát thay mặt Ngài.
Theo Luật Trời, trên
Địa cầu phải có 7 giống dân, mỗi giống dân đều có một vị Phật ra đời đặng giáo
hóa.
Giống dân thứ nhứt,
giống dân thứ nhì đã tàn lâu rồi.
Giống dân thứ ba là
giống dân Lémuriens. Nhánh nhóc của giống dân nầy còn lại là những người da đen
ở Phi châu, Á châu, Úc châu và Mỹ châu.
Giống dân thứ tư là
giống Atlantes, tổ tiên giống da vàng và da đỏ hiện nay.
Giống dân thứ năm là
giống dân da trắng.
Giống dân thứ sáu chưa
sanh ra.
Đức Phật hiện nay là
Đức Phật Gautama, người ta gọi là Phật Cồ Đàm hoặc Đức Phật Thích Ca.
Ngài là Đức Phật của
giống dân thứ tư và cũng là vị Phật thứ tư.
Ngài là người đầu tiên
của nhân loại đắc quả Phật mới có 2500 năm nay.
Ba vị Phật trước kia
vốn ở Kim tinh qua giúp đỡ Địa cầu khi nhân loại còn ấu trĩ, chớ không phải là
người của nhân loại.
Sáu, bảy trăm năm nữa,
khi giống dân thứ sáu sanh ra rồi thì Đức Thích Ca giao ngôi vị Phật lại cho
Đức Di Lạc Bồ Tát tức là Seigneur Maîtreya, rồi Ngài sẽ lãnh một nhiệm vụ mới
khác, không ai rõ là cái chi và ở chốn nào.
5
CHỚ NÊN LÀM NÔ LỆ KINH
SÁCH.
Kinh sách Đạo đức giúp
ta hiểu được Chơn lý, điều nầy rất hữu ích và rất tốt. Tuy nhiên, cũng nên nhớ
rằng tất cả vốn không phải do những vị Đắc đạo hay là những vị Cao đồ của Chơn
Sư viết ra : thế nên chúng ta phải thận trọng cho lắm.
(Thường thường khi
nghe nói Kinh Phật hay là Phật ngôn thì người ta nhắm mắt tin theo chớ không
dám xét đoán coi có hữu lý hay không).
Tôi xin tóm tắt đoạn
nầy có ghi chép trong cuốn Kinh Ka la ma thuộc về bộ Tăng Nhứt
A hàm (Kalama Sutta de l’Anguttara Nikaya) cho quí bạn xem.
- Khi xưa
những người Kalama (Kalama) tới đảnh lễ Phật rồi hỏi : Bạch Phật ! Những người
Bà La Môn và những người Giáo phái khác tới thuyết cho chúng tôi nghe những
giáo lý của họ, ai ai cũng nói điều của họ dạy toàn là Chơn lý cả. Bạch Phật
chúng tôi rất bối rối; không biết phải nên tin hay bác bỏ, xin Phật dạy cho”.
Phật bèn đáp : “Các
ngươi không nên tin điều nào mà các ngươi chỉ nghe lập lại mà thôi; không nên
tin những tục lệ di truyền từ đời nầy qua đời kia; không nên tin những sự đồn
đãi; không nên tin những bài mà người ta cho là vốn của những vị Thánh Hiền
thuở xưa viết ra; không nên tin những sự định dẹo; không nên tin những điều mà
các người có thói quen quí chuộng; không nên tin những lời nào đó vốn của Thầy
các ngươi hay là Sư huynh các ngươi thốt ra 25.
Nhưng sau khi xem xét
kinh nghiệm và suy nghĩ chín chắn rồi mà thấy có thuyết nào hợp với chánh lý và
hữu ích cho mọi người thì hãy công nhận nó và sống với nó”.
------------
Chí lý thay những lời
Phật dạy trên đây ! Nếu đem áp dụng vào lúc xem kinh kệ thì sẽ mở trí phân biện
và tránh được những điều mê tín dị đoan. Chắc chắn là dựa theo bài nầy mà Ông
Jagadish Kasyapa viết trong cuốn Phật Pháp của ông ba câu nầy nói về đặc sắc
của Phật Giáo.
(B)
Chương V
Đặc Sắc Của Phật Giáo.
1.- Đối với các hàng
Phật Tử, ba Tạng Kinh không được xem như chiếm một địa vị quan trọng như Thánh
Kinh (Bible) đối với tín đồ Cơ Đốc Giáo hay là Kinh Cô Răn (Coran) đối với tín
đồ Hồi Giáo hoặc là Kinh Phệ Đà đối với dân chúng Ấn.
2.- Vị Phật Tử không
nô lệ ba Tạng Kinh, anh không chấp nhận nó một cách mù quáng như là Chơn Lý
tuyệt đối do một Đấng Thần Linh tiết lộ hay là như một tín điều.
3.- Đức Phật không hề
đòi hỏi đức tin của ai, dầu không có sự hiểu biết.
Nguyên văn chữ Pháp.
---------
Chapitre V
La Singularité du
Bouddhisme.
1.- Le Tri Pitaka ne
doit cependant pas être pris comme occupant une position parmi les Bouddhistes
que la Bible parmi les Chrétiens ou le Coran parmi les Musulmans ou les Védas
pourles Hindous.
2.- Un Bouddhiste n’est
pas esclave du Tri Pitaka. Il ne l’accepte pas aveuglément comme étant la
vérité ultime venant d’un être divin ou un objet de foi.
3.- Le Bouddha n’a
jamais demandé la foi de personne, même à défaut de compréhension.
(Le Dhamma du Bouddha
par Jagadish KASYAPA Chapitre V - page 4)
-----------
Trong Pháp Bửu Đàn
Kinh cũng có hai câu nầy :
Lòng mê Pháp Hoa
chuyển
Lòng ngộ chuyển Pháp
Hoa
Xin hỏi : Không nô lệ
ba Tạng Kinh, không chấp nhận nó một cách mù quáng thì ta phải có thái độ nào
đối với những kinh của đời sau viết ra. Có nên nhắm mắt tin theo không ?
Luôn luôn các vị Giáo
chủ đều dạy tín đồ phải suy nghĩ cho sâu xa, rồi phải kinh nghiệm, cái nào đáng
tin thì tin, không đáng tin thì dẹp qua một bên. Như vậy mới mau trở nên sáng
suốt.
Nhưng từ xưa đến nay
có bao nhiêu người tin theo.
KẾT LUẬN
Theo lời Đức Long Thụ
tiết lộ thì Phật Giáo có hai khoa : Khoa Công Truyền hay là Hiển và Khoa Bí
Truyền hay là Mật.
Điều nầy chứng minh
rằng Ngài đã thọ lãnh được Chơn Truyền và chắc chắn, Ngài dùng khoa Mật để dạy
riêng các vị môn đồ đã được chọn lựa. Số đệ tử nầy bao nhiêu? Không ai biết rõ.
Còn ba bộ : Trung Luận
Thập Nhị Môn Luận
Bát Nhã Ba La Mật Đa
Kinh Luận phổ biến
trong quần chúng thuộc về khoa Công truyền. Lẽ dĩ nhiên chơn lý không được giải
thích rành rẽ như trong Khoa Mật. Ai muốn hiểu sao thì hiểu. Công nhận lý luận
của Ngài thì tốt. Mà bác bỏ cũng chẳng hề chi bởi vì ở Ấn Độ có nhiều trường hay
là nhiều phái Triết học truyền dạy những phương pháp luyện tập khác nhau và
những lý luận có chỗ cũng chống đối nhau, chẳng hạn như Trường
Vijnânavâda 26 và Trường Yogacharya 27 nghịch
hẳn với Trường Madhyamika (Trung Luận) vậy.
Chúng ta bàn luận đây
để tìm kiếm coi có thêm cho chúng ta một ánh sáng nào mới mẻ nữa chăng ?
Đứng về phương diện
thực tế, ta phải già, phải chết. Ta còn phải đầu thai lại cõi Trần để trả quả
và mỗi kiếp phải học thêm bài hoc mới, càng ngày càng khó khăn hơn cho tới khi
nào được trọn sáng trọn lành, không còn cái chi phải học, phải kinh nghiệm tại
Dãy Địa cầu nầy nữa, mới được giải thoát.
Hiện giờ muôn ngàn sự
khổ phô bày trước mắt mỗi ngày. Ta có dám phủ nhận rằng : Không có Sanh, không
có Tử, không có Lão, không có Bệnh chăng ? Ta có tránh khỏi mấy điều ấy chưa ?
Phật đã dạy khôn ta trong bài “Chuyện Một Người Bị
Một Mũi Tên Thuốc” .
Nếu ta đứng trước mặt
một nhà bác học và ta giải thích với ông là Ngũ Uẩn trống không, không Sắc,
Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp . . . thì chắc chắn ông sẽ mĩm cười và bảo ta :
“Anh nói : Ngũ Uẩn trống không, không có chi hết, thì anh là cái chi đây ? Anh
đừng ăn, đừng ngủ, đừng thở, thử coi anh có sống được không ? Anh đau, anh
bệnh, anh đừng uống thuốc thì anh có bảo toàn sanh mạng anh được không ?
Nội một việc trước mặt
mà giải quyết chưa xong thì nói chi đến chuyện xa vời quá đổi và cao tận mây
xanh.”
Không biết ta phải trả
lời làm sao đây cho xuôi.
Ta nên hiểu điều tối
quan trọng nầy : Nếu từ ngàn xưa, các vị Thánh Nhơn Hiền Triết đều quả quyết
rằng Vạn vật trống không là bởi các Ngài có ý muốn thức tỉnh con người vì chưng
con người quá tham luyến Hồng Trần nên quên phức Bản Tánh Thiêng Liêng của mình
mà không lo Tu niệm, đặng mau tiến tới mục đích đã định sẵn cho Thái dương hệ
nầy.
Các Ngài vén một góc
màn vô minh cho con người thấy ánh sáng rồi các Ngài bảo : “Đó mấy anh thấy
chưa ? Những điều các anh quí trọng nhứt, đắm mê nhứt, đều dùng được lâu lắm là
một đời thôi, mà nó cũng tiêu tan như mây khói trong chớp mắt nữa. Chúng nó là
ảo ảnh. Mấy anh nhận định sự vật không đúng với chân giá trị của chúng nó.
Những vật quyến rủ,
những sự thử thách, mặc dù chúng nó đáng ghê sợ nhưng thật ra chúng nó là những
bài học của Thiên nhiên mang đến để dạy con người trở nên khôn ngoan, sáng
suốt, can đảm, nhẫn nại và từ bi bác ái hơn trước đặng hiểu biết sự hành động
của Luật Trời.
Vậy điều hay hơn hết
là con người phải Tự Giác. Con người tự biết mình rồi thì mới biết được lý do
Sanh Hóa con người và vạn vật trên Dãy Địa Cầu nầy và tới chừng đó con người
mới thật hiểu được ý nghĩa của những danh từ : Thượng Đế, Thiên Thần, Phật, Bồ
Tát, Niết Bàn, Thiên Đường . . . đã dùng trong những Kinh sách đạo đức Đông
Tây, từ xưa đến nay, và tại sao có những vị giáo chủ ra đời dạy Đạo.
Bây giờ đây muốn biết
được bản tánh Thiêng Liêng của mình, thì trước nhứt, ta phải
lo chặt đứt cội rễ của những sự đau khổ là Tánh Ích Kỷ và sự
Chia Rẽ Ta với Người chớ đừng phí thời giờ để bàn bàn luận luận những vấn đề
quá sức tưởng tượng của con người và trừ phi ra những vị được vào hàng Tứ
Thánh, đứng tên vào bộ Tiên Ban thì không có một ai còn ở ngoài đời biết những
lời giải thích đó Trúng hay Trật, nghĩa là đúng
với sự thật hay không đúng.
Về mặt thực tiển thì
không ích chi cả mà còn có hại, bởi vì nó tăng tánh kiêu căng, tự phụ của con
người. Con người thấy mình giỏi, mình hay hơn chúng bạn vì người ta luận rất
thấp còn mình bàn thật cao; con người hiu hiu tự đắc, nhưng thật sự con người
đã vấp té mà không ngờ, đó là điều đáng thương hại lắm !
Phương pháp hay hơn
hết là tự mình kinh nghiệm, phải mở những quyền năng còn tiềm tàng trong mình
đặng quan sát sự sanh hóa những tế bào và thân hình các loài vật; cách làm việc
của các Thiên Thần và cũng phải vào mấy cõi Trời đặng học hỏi và kinh nghiệm
thêm. Chừng đó mới thật biết nghĩa chữ Không, biết một cách Trực
tiếp chớ không phải biết một cách gián tiếp như những điều chúng ta
đang học hỏi bây giờ đây.
Người Thật
Biết hay là những vị đệ tử của Chơn Sư không bao giờ tranh đua hay là
cãi lý lẽ với ai cả, bởi vì ai ai cũng hữu lý, chỉ khác nhau ở chỗ lý cao hay
lý thấp mà thôi.
Một người ở trên cao
độ một trăm thước, nhìn thấy xa hơn một người ở dưới đất, và một người lên cao
hơn một ngàn thước còn nhìn thấy xa hơn một người ở cao độ một trăm thước nữa v
.v . . .
Tuy nhiên phải đi từ
chỗ tối tăm tới nơi sáng suốt lần lần.
Vì thế trong Phật Giáo
mới có thời kỳ nhập môn, bốn bậc Điểm Đạo (Tứ Thánh) 28 để
đào tạo các vị đệ tử và các Tôn giáo lớn đều có Khoa Bí Truyền. Nếu chưa có
chút kinh nghiệm về đường Đạo mà cứ coi theo sách, rồi kẻ khen trắng, người chê
đen, cãi với nhau tối Trời Đất như tục thường nói, thì chung
cuộc mất niềm hòa khí, chớ không đem lại kết quả tốt đẹp nào cả. Ở đời ít có
người biết phục thiện, ai ai cũng cứ lo giữ vững lập trường của mình, nào có ai
chịu thua ai ?
Xét cho kỹ, dù tin có
Thượng Đế hay không tin có Ngài, dù nói có Linh hồn hay không công nhận có Linh
hồn, dù nói có, có, hay không, không hay chi chi
nữa thì :
Sớm mai mặt trời cũng
mọc ở phương Đông, chiều lại lặn ở phương Tây, trái đất cũng xoay xung quanh
mặt trời và mặt trăng cũng xoay xung quanh trái đất. Hết ngày đến đêm, hết đêm
trở lại ngày. Bốn mùa tám tíết cứ vần xoay và nối tiếp với nhau mãi : Đông mãn,
Xuân sang, Hè qua, Thu lại.
Đừng quên rằng : những
tín ngưỡng của con người không thay đổi được cơ Tạo Hóa.
Phải kinh nghiệm mà
cũng đừng quá tin kinh sách, bởi vì tất cả kinh sách đều không phải do toàn là
những người đắc đạo viết ra.
Một Bộ Bách Khoa lớn
và đầy đủ hơn hết cũng có thể gọi là Kinh Vô Tự, là cảnh vật Thiên Nhiên phô
bày Chơn lý trước mắt ta đó. Đọc được bộ sách nầy rồi thì hãy dẹp tất cả kinh
sách qua một bên. Chúng nó trở thành vô dụng rồi. Lẽ tự nhiên, muốn đọc bộ sách
nầy thì tấm lòng phải chơn chánh, trong sạch, mặc dầu là tương đối, điều mà tất
cả mọi người không phải đều làm được.
Vì mấy lẽ trên đây mà
trong Kinh Garouda Pourana có câu nầy :
Khi thật hành hoàn
toàn tất cả những lời dạy trong những cuốn Kinh Phệ Đà (Védas) và biết được
chơn lý rồi thì người hiền triết có thể dẹp bỏ những Thánh Kinh, cũng như một
người kia khi gặt được nhiều hột lúa rồi thì loại ra những cọng rơm vậy.
Thuở xưa trên ngưỡng
cửa Thánh Điện DELPHES có khắc câu châm ngôn nầy : “Ngươi hãy biết
ngươi rồi ngươi sẽ biết vũ trụ và các vị Thượng Đế”.
Thật vậy, chẳng phải ở
trong đường Đạo mà thôi, dầu ở ngoài đời cũng vậy, mình tự bíết mình là điều
kiện tối cần cho sự thành công mau lẹ và nếu không biết lý do sanh hóa con
người trên Dãy Địa Cầu nầy thì không biết mục đích của sự tu hành.
Tôi xin lấy hai câu
trên đây để kết luận và xin lập lại một lần nữa là :
Tôi chỉ trình bày
những sự hiểu biết của tôi, và mong rằng chúng nó giúp ích quí bạn được phần
nào trong việc tìm kiếm Chơn lý.
Chỉ có thế thôi và Tự Do Tín Ngưỡng - Tự Do Tư Tưởng .
------------
Chú thích :
Chú thích cuối sách.
1. Chữ Madhyamika vốn
do chữ Madhya có nghĩa là “ở chính giữa mà ra”.
Trong Nam Phạn Sunyata
viết là Sunnata – Có hai danh từ :
Sunnata nupassanâ :
Contemplation du vide : Chiêm ngưỡng hư không.
Sunnata Vimokkha :
Libération par le vide : Giải thoát do sự trống rỗng.
2. Có chỗ lại nói Ngài
bỏ xác năm 180 sau Chúa Giáng Sanh, phân phân bất nhất.
3. Sau các tín đồ của
Ngài gọi Ngài là Aryasanga.
4. Tôi không hiểu tại
sao khi tụng kinh xong rồi phải tụng thêm Tâm Kinh. Có ích lợi gì cho đạo đức.
5. Adi Bouddha Tàu
dịch là : Tối Thượng Thắng Phật hay là A Đề Phật.
6. Tôi không biết 5
Phật tánh này là những tánh nào, tôi có gởi thơ hỏi một vị Đại Đức bên Ấn Độ
thì Ngài trả lời rằng : Ngài không rõ. Chẳng biết chúng nó có khác với Ngũ Phật
tánh này không ?
1- Chánh
nhơn Phật tánh,
2- Liễu
nhơn Phật tánh,
3- Duyên
nhơn Phật tánh,
4- Quả
Phật tánh,
5- Quả
quả Phật tánh.
7. Có chỗ viết
Aksobya.
8. Có chỗ đề :
Amitijus hay là Vô Lượng Thọ Phật.
9. Có chỗ đề :
Amogasidhi.
10. Shaku Hannya
tiếng Nhật là Tước Bát Nhã, Bá Tước là Công Tước Bát Nhã
11. Bản Anh văn dịch
là “name”. Nguyên văn bản chữ Phạn : Samjnâ là tư tưởng.
12. Để tránh chữ đồng âm chúng tôi dịch “empty”
: không , là rỗng không. Còn chữ “no” : không có hay là vô.
13. Cho đến: tiếng
Phạn Yavat (Tàu dịch nãi chí) thường thấy trong kinh Phật, để tránh nói đi rồi
nói lại. Nếu từ câu chẳng có mắt . . . mà phải kể cho đủ 18 giới là sáu căn,
sáu trần, sáu thức thì rất dài.
14. Nguyên văn chữ
Phạn là “varana” (bao bọc). Pháp sư Huyền Trang dịch là “chướng ngại”.
15. 4 chử Bodhisattvas
les plus éminents, tôi dịch là Bồ Tát Ma Ha Tát tức là Bodhisattvas Mahasattvas
có lẽ đúng hơn là dịch Tối Đại Bồ Tát.
16. Quí ông Ngạn Ôn –
Dư Tụng dịch là : “Vô song nguyên lý của nền Triết học và Khoa học Cực Đông” do
Anh Minh xuất bản năm 1969 Đà Nẳng.
17. Câu nầy ý nghĩa
nghịch hẳn với câu : “ Và như thế Ngài tự giải thoát được cái sự khổ não đau
đớn.
Trong bản dịch Tâm
Kinh của ông Jean Marquès Rivière ; “et il fut libéré ainsi de la douleur et de
la souffrance”.
18. Theo Bắc phạn
(Sancrit) Skandha có nghĩa là nhóm (groupe), kết khối, đoàn khối (agrégat) , vô
số (multitude)>
Theo một định nghĩa
khác riêng biệt : Skandha là 7 thể của con người, mầm mống của sự sống
trong 7 cõi của Bản Thể.
Còn theo Phật
Giáo,Skandhas chỉ có nghĩa là Ngũ Uẩn. Thật là cực kỳ khó khăn.
Những điều mà Ấn Giáo
gọi là Karma. Phật Giáo gọi là Skandhas.
19. Bản Anh văn dịch
name “nguyên văn chữ Phạn là Sanyna – là tư tưởng”.
Để tránh chữ đồng âm,
chúng tôi dịch “EMPTY” trống là trống không; còn “NO” , chẳng có là “VÔ”.
20. Cho đến : Tiếng
Phạn “YAVATI”Tàu dịch “Nãi chí”, thường thấy trong kinh Phật. Để tránh nói đi
nói lại, nên từ câu Chẳng có mắt . . . mà phải kể đủ 18 giới là 6 căn, 6 trần,
6 thức thì rất dài.
21. Sotopanna hay là
Srottapatti hoặc Sohan cùng một nghĩa.
22. Đối với Vô cực (Absolu) thì những Thái dương hệ
trên không gian là những hột bụi, cát.
23. Lời nầy rất đúng
vì sau khi bỏ xác rồi về cõi Trung giới, con người sẽ gặp những chuyện vui gấp
cả trăm lần hơn hồi còn sống ở thế gian. . .
24. Le néant selon le
manifestémais quiest, en réalité, le maximum d’être.
Đối
với cõi đời hiện tại nó là cái Trống Không, nhưng thật sự là nó hoàn toàn đầy
đủ vậy.
(Thật đúng như vậy - Lời tác giả)
25. Tôi tưởng Phật nói
đây là những vị Thầy phàm chớ không phải Tiên Thánh hay Chơn Sư.
26. Có thể gọi là Trí
thức giả chăng ?
27. Du già hạnh.
28. Nói cho đúng, còn
bực thứ Năm nữa là A sơ ca (Aseka) được 5 lần Điểm Đạo. Tới bực nầy con người
thành một vị Siêu Phàm và được giải thoát.(Xin xem quyển Chơn Sư và Đệ Tử của tôi)
H Ế T
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét