Ấn
Bản Đầu Tiên Năm 1896
Bản Dịch Chơn Như - Mùa Hè 2007
Bản Dịch Chơn Như - Mùa Hè 2007
- Dẫn
nhập
- Thể
xác
- Thể
trí
Khi đưa quyển sách nhỏ
này ra giới thiệu với thế giới thì ta cần phải nói vài lời. Đó là quyển thứ bảy
trong một loạt các Cẩm nang được dự tính để đáp ứng yêu cầu của công chúng có một
sự trình bày giáo huấn Thông Thiên Học đơn giản. Một số người đã phàn nàn rằng
kho tài liệu của chúng ta vừa quá bí hiểm, quá chuyên môn lại vừa quá đắt đối với
bạn đọc bình thường, và chúng tôi hi vọng rằng loạt sách hiện nay có thể thành
công trong việc cung ứng điều vốn là một nhu cầu rất thiết thực. Thông Thiên Học
không chỉ dành cho người có học, nó dành cho mọi người. Trong số những người lần
đầu tiên thoáng thấy được giáo huấn qua những quyển sách nhỏ này có thể có một
một vài người được chúng dẫn dắt thâm nhập sâu thêm vào triết học, khoa học và
tôn giáo của nó, đương đầu với những vấn đề bí hiểm hơn bằng sự hăm hở của một
học viên và bầu nhiệt huyết của một kẻ sơ cơ. Nhưng những Cẩm nang này không được
viết ra dành cho học viên tha thiết vốn không nao núng trước những khó khăn ban
đầu; Cẩm nang được viết ra cho những người nam nữ đang bận bịu với công việc
mưu sinh hàng ngày trên thế gian, nó tìm cách minh giải một số sự thật vĩ đại
khiến cho ta dễ chịu đựng hơn được cuộc sống và dễ giáp mặt hơn với sự chết. Do
được viết ra bởi những người phụng sự các Chơn sư, vốn là các Huynh trưởng của
loài người, cho nên các quyển sách này không có mục đích nào khác hơn là phục vụ
cho đồng loại của chúng tôi.
DẪN NHẬP
Có biết bao nhiêu sự lẫn
lộn giữa tâm thức với các hiện thể, giữa chơn nhơn với các lớp áo mà nó khoác lấy,
cho nên dường như là hợp thời khi ta nêu ra trước các học viên Thông
Thiên Học một phát biểu rành rẽ về những sự thật mà chúng ta biết được. Chúng
tôi đã đạt tới một mức nghiên cứu sao cho nhiều điều thoạt tiên mù mờ đã trở
nên sáng sủa, nhiều điều mơ hồ đã trở nên xác định, nhiều điều trước kia được
chấp nhận chỉ là lý thuyết thì nay đã trở thành sự hiểu biết tự thân trải nghiệm.
Do đó chúng tôi có thể sắp xếp những sự kiện mà mình nhận biết được thành ra một
chuỗi mạch lạc, những sự kiện này có thể được quan sát đi quan sát lại nếu học
viên thành công khi triển khai được năng lực quan sát; y sẽ nói về chúng một
cách chắc mẫm giống như cảm tưởng của nhà vật lý học bàn tới những hiện tượng
khác mà y đã quan sát và lập thành bảng biểu. Nhưng cũng giống như nhà vật lý
có thể phạm sai lầm, cũng vậy nhà siêu hình học cũng có thể sai lầm, và khi tầm
hiểu biết mở rộng ra thì các ánh sáng mới sẽ soi chiếu cho những sự thật cũ, mối
quan hệ của chúng sẽ được thấy rõ hơn, dáng vẻ của chúng sẽ thay đổi – thường thường
là bởi vì khi có thêm ánh sáng thì sẽ cho thấy sự thật trước kia dường như
là trọn vẹn thì nay chỉ đúng có một phần. Không ai được khẳng định thẩm quyền của
mình về những quan điểm được trình bày ở đây; chúng được trình bày theo kiểu từ
người học này đến những người học khác, đó là một nỗ lực mô phỏng lại điều đã
được thầy dạy nhưng chắc chắn là học trò hiểu không tới nơi tới chốn do kết quả
quan sát của mình chịu ảnh hưởng của năng lực hạn chế khiến cho mình chỉ thấy
như vậy thôi.
Ngay lúc bắt đầu nghiên
cứu, bạn đọc phương Tây cần thay đổi thái độ mà mình đã quen tự xem xét mình,
nghĩa là y nên phân biệt rành mạch giữa chơn nhơn và các hạ thể mà chơn nhơn ở
trong đó. Chúng ta có thói quen đồng nhất hóa mình với các lớp áo bên ngoài mà
mình khoác lấy, ưa nghĩ về mình như thể mình là các hạ thể đó đến đỗi mà muốn
lĩnh hội được một quan niệm chân thực về đề tài mà mình đang xét thì chúng ta cần
phải từ bỏ quan điểm đó, không được đồng nhất hóa mình với những vỏ bọc mà mình
nhất thời khoác lấy rồi lại cởi ra để lại mặc vào những lớp vỏ mới khi chúng ta
lại cần tới những bộ y phục đó. Đồng nhất hóa mình với những hạ thể vốn chỉ tồn
tại nhất thời thật sự cũng điên rồ và phi lý như đồng nhất hóa mình với quần áo
mình mặc; chúng ta không được tùy thuộc vào chúng – giá trị của chúng chỉ tỉ lệ
với công dụng của chúng thôi. Cái lỗi lầm thường xuyên đồng nhất hóa tâm thức
(tức là Chơn ngã) với các hiện thể mà tâm thức ấy nhất thời hoạt động thông qua
đó, chỉ có thể được tha thứ do có sự thật là ý thức tỉnh táo (và trong một chừng
mực nào đó ý thức trong khi nằm mơ cũng vậy) chỉ linh hoạt và hoạt động trong
thể xác, và người thường thì chẳng biết gì nếu không thông qua ý thức tỉnh táo
đó; thế nhưng ta có thể dùng cái trí để hiểu được tình huống thật sự và chúng ta
có thể rèn luyện mình coi Chơn ngã là chủ nhân ông của hiện thể thì nhiên hậu
kinh nghiệm này sẽ trở thành một sự thật nhất định khi chúng ta học cách
tách rời Chơn ngã ra khỏi các hiện thể, thoát ra khỏi hiện thể để biết rằng
mình tồn tại trong một tâm thức viên mãn hơn nhiều khi ở bên ngoài hiện thể so
với khi ở bên trong hiện thể; do đó chúng ta không tuyệt nhiên tùy thuộc vào
nó. Một khi đã thành tựu được điều này thì cố nhiên chúng ta không còn có thể đồng
nhất hóa Chơn ngã của mình với các hiện thể được nữa và chúng ta không bao giờ
có thể phạm sai lầm khi giả định rằng mình là cái mà mình đang khoác lấy. Ít ra
thì việc hiểu rõ ràng bằng cái trí cũng ở trong tầm với của mọi người thuộc
chúng ta, và chúng ta có thể rèn luyện mình tập thói quen phân biệt giữa Chơn
ngã tức Chơn nhơn với các hạ thể. Chỉ cần làm như thế thôi thì cũng thoát được
cái ảo tưởng mà đa số mọi người đang vướng mắc trong đó, chúng ta sẽ thay đổi
được trọn cả thái độ của mình đối với cuộc đời cũng như đối với thế gian, nó sẽ
chấp cánh giúp chúng ta bay bổng lên một cõi thanh thản hơn vượt trên “những biến
dịch và may rủi bấp bênh của cái cuộc sống hữu hoại này”, nó đặt chúng ta trên
tầm những rối rắm nhỏ nhặt hằng ngày vốn lù lù ngay trước mắt tâm thức đang
mang xác phàm; nó cho chúng ta thấy mức độ tỉ lệ đúng thực giữa điều hằng biến
dịch và điều tương đối trường tồn, nó khiến cho chúng ta cảm thấy sự khác nhau
giữa con người bị chết đuối do các đợt sóng nhồi lên nhồi xuống làm y ngạt thở
và con người đặt chân vững vàng trên một tảng đá mà sóng vỗ chỉ gây vô hại ở dưới
đáy.aaa
Khi dùng từ chơn nhơn
tôi ngụ ý là chơn ngã sống động, có cá tính, hữu thức và biết suy tư; còn khi
dùng từ các hạ thể, tôi ngụ ý là đủ thứ vỏ bọc mà chơn ngã này bị lọt vào trong
đó, mỗi vỏ bọc khiến cho chơn ngã có thể hoạt động ở một vùng xác định nào đó
trong vũ trụ. Cũng như con người có thể sử dụng một cái xe trên đất liền, một
cái tàu trên mặt nước và một máy bay trong không khí để di chuyển từ nơi này tới
nơi khác, thế nhưng vẫn còn là chính mình ở khắp mọi nơi, cũng vậy Chơn ngã, tức
chơn nhơn vẫn còn là chính mình cho dù nó đang hoạt động trong hạ thể nào; và
cũng như cái xe, con tàu và máy bay thay đổi về vật liệu và kết cấu tùy theo yếu
tố được thiết kế để cho mỗi phương tiện này vận chuyển trong đó, cũng vậy mỗi hạ
thể tùy theo môi trường mà nó hoạt động trong đó. Ha thể này thô trược hơn hạ
thể kia, hạ thể này chết yểu hơn hạ thể kia, hạ thể này ít năng lực hơn hạ thể
kia, nhưng tất cả đều có chung nhau một điểm, đó là chúng tương đối phù du so với
chơn nhơn, chúng là công cụ của chơn nhơn, phục vụ cho chơn nhơn, bị mòn mõi và
đổi mới theo bản chất của mình và thích ứng với nhu cầu biến thiên cũng như quyền
năng đang tăng trưởng của chơn nhơn. Chúng ta sẽ nghiên cứu từng hạ thễ một, bắt
đầu với thể thấp nhất rồi mới xét tới chính chơn nhơn, là đấng chủ động trong mọi
hạ thể.
THỂ VẬT LÝ
Thuật ngữ thể vật lý
(physical body) phải bao gồm cả hai nguyên khí thấp của con người mà thuật ngữ
cổ xưa của chúng ta gọi là Sthūla Sharīra và Linga Sharīra, bởi vì cả hai đều
hoạt động trên cõi vật lý, đều gồm có chất vật lý, được tạo thành trong thời kỳ
một kiếp sống trên cõi vật lý và bị con người vứt bỏ vào lúc chết để rồi cùng
nhau tan rã trên cõi vật lý khi con người chuyển sang cõi trung giới.
Một lý do khác để xếp
hai nguyên khí này hợp lại thành thể vật lý là vì chừng nào chúng ta chưa thoát
ra khỏi thế giới vật lý – tức cõi mà chúng ta quen gọi là cõi trần – thì chúng
ta còn phải dùng tới một trong hai lớp áo vật lý này hoặc cả hai. Chúng đều thuộc
về cõi vật lý do cấu tạo vật liệu của cõi này và không thể thoát ra khỏi bên
ngoài nó; tâm thức hoạt động bên trong chúng bị hạn chế trong nội bộ sự gò bó của
cõi vật lý và phải tuân theo những định luật thông thường về không gian và thời
gian. Mặc dù có thể tách rời nhau một phần nào, song chúng hiếm khi rời xa nhau
trong khi còn sống trên cõi trần, sự rời xa đó không đáng khuyến khích và luôn
là dấu hiệu bệnh tật hoặc cấu tạo mất thăng bằng.
Xét theo vật liệu cấu tạo
nên chúng thì ta có thể phân biệt chúng ra thành xác phàm (the gross body) và
thể phách (the etheric double), thể phách là bản sao chính xác từng hạt một của
thể hữu hình và là môi trường thông qua đó có tác dụng mọi dòng điện và dòng
sinh khí mà hoạt động của xác phàm tùy thuộc vào đó. Từ trước đến nay, ta vẫn gọi
thể phách là Linga Sharīra, nhưng vì nhiều lý do dường như ta nên chấm dứt việc
dùng tới tên gọi đó để chỉ thể này. Từ lâu rồi cổ thư của Ấn Độ đã dùng từ
“Linga Sharīra” theo một nghĩa khác, và cho dù là người Đông phương hay người
Tây phương thì các học viên kho tài liệu Á đông ắt gặp phải nhiều lẫn lộn do hậu
quả võ đoán, xuyên tạc ý nghĩa mà nó đã được công nhận; vì lý do đó (nếu không
phải còn lý do khác nữa) tốt hơn ta nên từ bỏ cách dùng không chính đáng ấy.
Hơn nữa, nếu có được một tên gọi bằng tiếng Anh để chỉ những phần chia nhỏ
trong cấu tạo của con người thì ắt là tốt hơn, do đó khiến cho kho tài liệu sơ
cấp của chúng ta không còn chướng ngại vật cho những kẻ sơ cơ đứng trước thuật
ngữ tiếng Bắc phạn. Vả lại tên gọi thể phách cũng biểu diễn chính xác được bản
chất và cấu tạo của phần tinh vi thuộc thể vật lý; do đó nó có ý nghĩa và dễ nhớ
hơn (mọi tên gọi đều nên như thế); nó là “thể phách” vì nó được cấu tạo bằng
“chất dĩ thái” (ether), nó là “nhị trùng thể” (double) vì nó là bản sao chính
xác của xác phàm, có thể nói là cái bóng của xác phàm.
Thế mà vật chất của cõi
trần được chia ra bảy lớp, phân biệt với nhau được, và mỗi lớp có đủ thứ tổ hợp
trong nội bộ giới hạn của mình. Bảy lớp này là: chất đặc, chất lỏng, chất khí,
chất dĩ thái; chất dĩ thái có bốn tình huống phân biệt với nhau cũng giống như
chất lỏng phân biệt với chất đặc và chất khí. Đây là bảy trạng thái của vật chất
thuộc cõi trần, và bất cứ bộ phận nào thuộc vật chất đó cũng đều có thể chuyển
thành bất kỳ một trong các trạng thái này. Mặc dù ở nhiệt độ và áp suất bình
thường theo cách mà ta gọi thì vật chất đó sẽ có một trong các trạng thái tương
đối là trường tồn, chẳng hạn như vàng thường là chất rắn, nước thường là chất lỏng,
clor thường là chất khí. Thể vật lý của con người bao gồm vật chất ở bảy trạng
thái này: xác phàm gồm vật chất ở thể đặc, thể lỏng và thể khí; còn thể phách
bao gồm bốn lớp chất dĩ thái mà ta lần lượt biết tên là Dĩ thái I, Dĩ thái II,
Dĩ thái III và Dĩ thái IV.
Khi chúng tôi trình bày
cho mọi người thấy những sự thật cao siêu của Thông Thiên Học, thì chúng tôi thấy
họ thường phàn nàn là các sự thật đó quá lờ mờ và họ thắc mắc: “Chúng tôi nên bắt
đầu từ đâu? Nếu chúng tôi muốn tự mình học hỏi và chứng tỏ sự thật những lời khẳng
định đó thì chúng tôi phải khởi sự như thế nào? Đâu là những bước đầu tiên mà
chúng tôi phải bước đi? Thật vậy, đâu là bộ chữ cái của ngôn ngữ mà các nhà
Thông Thiên Học cứ liếng thoắng thuyết pháp? Chúng tôi là những người nam nữ sống
trên thế gian thì nên làm gì để hiểu được và kiểm chứng được những vấn đề này,
thay vì chỉ chấp nhận chúng dựa vào đức tin nơi những người khác vốn tự cho là
mình có biết? Trong những trang sau đây tôi sẽ cố gắng trả lời thắc mắc đó để
cho những người thật sự tha thiết có thể hiểu được những bước thực tiễn sơ khởi
mà họ phải bước đi; ta luôn luôn phải hiểu rằng những bước này ắt thuộc về một
sinh hoạt mà bộ phận đạo đức, trí thức và tâm linh của nó còn đang được rèn luyện.
Dù cho người ta có làm gì cho thể vật lý không thôi thì điều đó cũng không biến
y thành một nhà thấu thị hoặc một ông thánh; nhưng cũng đúng là xét vì thể vật
lý là một công cụ mà chúng ta phải sử dụng cho nên ta cần đối xử với nó theo
cách nào đó để cho chúng ta có thể chuyển bước theo hướng Thánh đạo. Trong khi
việc chỉ xét tới thể vật lý không thôi chẳng bao giờ đưa chúng ta lên đến những
đỉnh cao mà chúng ta đang hoài bão, thế nhưng nếu bỏ mặc thể vật lý đó không
xét tới nó thì tuyệt nhiên cũng không thể khiến cho ta leo lên được những đỉnh
cao đó. Những hạ thể mà ta phải sinh hoạt và làm việc trong đó là những công cụ
của chơn nhơn và chúng ta phải hiểu ra điều sơ khởi này. Hạ thể tồn tại vì
chúng ta chứ chúng ta không tồn tại vì hạ thể; hạ thể để cho chúng ta sử dụng
chứ chúng ta không phải là tay sai của hạ thể để cho bị nó sử dụng. Hạ thể là một
công cụ cần phải được tinh luyện, cải thiện, rèn luyện, uốn nắn thành ra một
hình dạng và cấu tạo bằng những thành phần khiến cho nó có thể thích hợp nhất để
làm công cụ trên cõi trần, phục vụ những mục đích cao nhất của chơn nhơn. Mọi
điều hướng theo chiều đó đều cần phải được khích lệ và bồi dưỡng; mọi điều đi
ngược lại hướng đó đều nên tránh. Việc hạ thể có thể có những mong ước gì, có
thể đã tập nhiễm những thói quen gì trong quá khứ thì chẳng có chi quan trọng;
hạ thể thuộc về chúng ta, là tôi tớ của chúng ta để chúng ta tùy ý sử dụng và đến
lúc mà nó chiếm quyền kiểm soát đòi dẫn dắt con người thay vì chịu sự chỉ dạy của
chơn nhơn thì lúc đó trọn cả mục đích của cuộc đời đã bị phá hoại và hoàn toàn
không thể có được bất kỳ loại tiến bộ nào. Đây là điều mà bất cứ người nào tha
thiết đều phải khởi sự từ đó. Chính bản chất của thể vật lý khiến cho nó là một
điều có thể dễ dàng trở thành một tôi tớ hoặc một công cụ. Nó có một vài đặc
tính giúp ta rèn luyện được nó và tương đối dễ dàng chỉ đạo, uốn nắn nó; một
trong những đặc tính này là khi nó đã quen hoạt động theo một đường lối đặc thù
nào thì nó dễ dàng tự nguyện đi theo đường lối đó và rất vui lòng làm như thế
cũng giống như trước kia nó đã từng đi theo những đường lối khác. Nếu ta đã tập
nhiễm theo một thói quen xấu thì hạ thể sẽ chống cự khá quyết liệt đối với bất
kỳ sự thay đổi thói quen này; nhưng nếu nó bắt buộc phải thay đổi, nếu ta vượt
qua được trở ngại mà nó cản đường, và nếu nó buộc lòng phải hành động theo ý muốn
của chơn nhơn thì chỉ ít lâu sau, hạ thể sẽ lại tự nguyện lập lại cái thói quen
mới mẻ mà con người đã áp đặt lên nó, và sẽ vui lòng theo đuổi phương pháp mới
cũng giống như nó đã từng theo đuổi phương pháp cũ mà chơn nhơn thấy có lý do để
phản đối.
Giờ đây chúng ta hãy
chuyển sang xét tới xác phàm mà ta có thể đại khái gọi là phần hữu hình của thể
vật lý mặc dù mắt phàm không được rèn luyện không thấy các thành phần cấu tạo bằng
thể khí. Đây là lớp áo ngoài cùng của chơn nhơn, là biểu lộ thấp nhất của nó,
là biểu hiện hạn chế nhất và bất toàn nhất của chơn nhơn.
Xác phàm
Chúng ta phải lần lữa
nói lâu dài đúng mức về cấu tạo của xác phàm thì chúng ta mới có thể hiểu được
bằng cách nào chúng ta có thể xét tới hạ thể này, tẩy trược nó và rèn luyện nó.
Chúng ta phải liếc nhìn một loạt các hoạt động mà phần lớn nằm ngoài tầm kiểm
soát của ý chí rồi đến những hoạt động chịu sự kiểm soát của ý chí. Cả hai loại
hoạt động này đều vận hành nhờ vào các hệ thần kinh, nhưng đó là các loại thần
kinh hệ khác nhau. Một hệ thống xúc tiến mọi hoạt động của cơ thể để duy trì
sinh hoạt bình thường của nó, nhờ vậy phổi mới co bóp, tim mới thoi thóp và hệ
tiêu hóa mới được điều động. Hệ thần kinh này bao gồm các dây thần kinh không cố
ý mà ta thường gọi là “hệ giao cảm”. Có một lúc trong quá khứ lâu dài khi cơ thể
của ta được kiến tạo qua sự tiến hóa vật lý thì hệ thần kinh này chịu sự kiểm
soát của con thú có hệ thần kinh đó, nhưng dần dần nó bắt đầu hoạt động một
cách tự động: nó thoát ra khỏi sự kiểm soát của ý chí, có được sự gần như độc lập
của riêng mình để tiến hành mọi hoạt động bình thường có tầm quan trọng sống còn
cho cơ thể. Trong khi một người đang khỏe mạnh thì y không nhận ra được những
hoạt động này; y chỉ biết rằng mình đang thở khi sự hít thở đó bị chèn ép hoặc
kiểm soát, y chỉ biết rằng tim mình đập khi tim đập đó là thùm thụp hoặc không
đều, nhưng khi mọi chuyện đều suôn sẻ thì những quá trình này tiếp diễn mà y
không để ý thấy. Tuy nhiên người ta có thể đưa hoạt động của hệ thần kinh giao
cảm này chịu sự kiểm soát của ý chí qua việc thực tập một cách lâu dài và gian
khổ; một lớp đạo sĩ Yoga ở Ấn Độ (được gọi là đạo sĩ Hatha Yoga) phát triển quyền
năng này đến mức phi thường với mục đích kích thích các thần thông hạ đẳng. Ta
có thể triển khai những thần thông này (vốn chẳng liên quan gì tới sự tăng trưởng
về trí thức, đạo đức hoặc tâm linh) bằng cách tác động trực tiếp lên thể vật
lý. Đạo sĩ Hatha Yoga học cách kiểm soát hơi thở của mình thậm chí tới mức tạm
ngưng thở trong một thời gian đáng kể để kiểm soát nhịp đập của tim khiến cho sự
tuần hoàn được đẩy nhanh lên hoặc chậm đi tùy ý, và bằng cách đó y khiến cho
xác phàm lâm vào tình trạng xuất thần và thể vía xuất ra. Ta không được đua đòi
theo phương pháp này, thế nhưng nó cũng dạy cho các quốc gia Tây phương (vốn
thường tôn sùng thể xác đến mức độc đoán) biết cách mà một người hoàn toàn kiểm
soát được quá trình thể chất thông thường là tự động này; và họ cũng hiểu ra được
rằng hàng ngàn người đã áp đặt lên mình một giới luật lâu dài và vô cùng gian
khổ để cho mình được thoát ra khỏi cái nhà tù tức là thể xác, và biết được rằng
mình còn sống khi thể xác đã tạm thời không còn hoạt động nữa. Ít ra thì họ
cũng tha thiết chứ không còn chỉ là nô lệ cho các giác quan.
Ngoài hệ thần kinh này
ra chúng ta còn có hệ thần kinh cố ý vốn quan trọng hơn nhiều cho các mục đích
tâm trí của ta. Đây là hệ thần kinh lớn vốn là công cụ để cho ta tư duy, nhờ đó
chúng ta có cảm giác và vận động được trên cõi trần. Nó bao gồm trục não tủy –
bộ óc và tủy sống – từ đó chạy ra khắp cơ thể các sợi dây bằng chất thần kinh tức
là các dây thần kinh cảm giác và vận động: dây thần kinh giúp chúng ta có cảm
giác chạy từ ngoại vi vô trục, còn dây thần kinh giúp chúng ta vận động chạy từ
trục ra ngoại vi. Các sợi dây thần kinh đó xuyên suốt mọi bộ phận của cơ thể,
liên kết với nhau lại thành từng bó, các bó thần kinh lại nối vào tủy sống để tạo
thành chất sợi ở bên ngoài rồi lại chuyển lên trên lan tỏa ra và chia nhánh
nhóc trong bộ óc, vốn là trung tâm của mọi cảm xúc và mọi sự vận động cố ý do ý
chí kiểm soát. Đây là hệ thần kinh giúp con người biểu hiện ý chí và ý thức của
mình, ta có thể nói rằng ý chí và ý thức đóng đô nơi bộ óc. Nếu không thông qua
bộ óc và thần kinh hệ thì con người không làm gì được trên cõi trần; nếu bộ óc
và thần kinh hệ bị xáo trộn thì con người không còn có thể biểu hiện một cách
trật tự được nữa. Đây chính là sự kiện đặt nền tảng cho thuyết duy vật với lập
luận rằng tư tưởng và tác động của bộ óc biến thiên cùng với nhau; khi chỉ xét
tới cõi trần thôi (nhà duy vật đúng là chỉ xét tới nó) thì tư tưởng và tác động
của bộ óc đúng là biến thiên cùng với nhau, và ta cần dẫn nhập các lực từ một
cõi khác tức cõi trung giới thì mới chứng tỏ được rằng tư tưởng không phải là kết
quả của những tác động thần kinh. Nếu bộ óc bị ảnh hưởng của thuốc men, của bệnh
tật hoặc bị tổn thương thì tư tưởng của con người có bộ óc đó không còn có thể
biểu hiện thỏa đáng trên cõi trần được nữa. Nhà duy vật ắt cũng nêu rõ rằng nếu
ta bị một bệnh nào đó thì tư tưởng cũng bị đặc biệt ảnh hưởng tới. Có một bệnh
hiếm có là bệnh mất ngôn ngữ (aphasia) vốn hủy hoại một bộ phận đặc thù của mô
não ở gần tai, có kèm theo việc hoàn toàn mất trí nhớ xét về ngôn từ; nếu bạn hỏi
một người mắc bệnh này một câu hỏi thì y không thể trả lời được, nếu bạn hỏi
tên y thì y sẽ chẳng trả lời, nhưng nếu bạn nói tên y ra thì y sẽ tỏ ra nhận biết
được tên đó, nếu bạn đọc cho y một phát biểu nào đó thì y sẽ tỏ vẻ đồng ý hoặc
không tán thành; y có thể suy nghĩ nhưng không nói được. Dường như thể bộ phận
thuộc bộ óc bị tiêu tán đi có liên quan tới trí nhớ về ngôn ngữ trên cõi trần
sao cho khi mất đi bộ phận đó con người cũng mất đi trí nhớ ngôn từ trên cõi trần
và trở nên câm lặng trong khi y vẫn còn giữ được khả năng suy tư và có thể đồng
ý hoặc không tán thành bất cứ đề nghị nào được đưa ra. Cố nhiên là lập luận của
nhà duy vật sẽ bị sụp đổ ngay tức khắc khi ngưới đó được giải thoát ra khỏi
công cụ bất toàn của mình; bấy giờ y có thể biểu hiện quyền năng của mình mặc
dù y lại bị què quặt trở lại khi một lần nữa phải chịu biểu hiện trên cõi trần.
Tầm quan trọng của điều này xét về sự tìm hiểu hiện nay của ta không ở nơi lập
trường của nhà duy vật có căn cứ hay không có căn cứ mà ở nơi sự thật là con
người bị hạn chế biểu hiện trên cõi trần là do năng lực của công cụ trên cõi trần
và công cụ đó chịu ảnh hưởng của các tác nhân trên cõi trần; nếu những tác nhân
này có thể gây tổn thương cho nó thì những tác nhân đó cũng có thể cải thiện được
nó – một nhận xét mà chúng ta ắt thấy có tầm quan trọng sống còn đối với chúng
ta.
Cũng như mọi bộ phận của
cơ thể, các thần kinh hệ được cấu tạo từ tế bào vốn là các vật thể nhất định
nho nhỏ có bức vách bao xung quanh, bên trong có chứa một số chất mà ta thấy được
dưới kính hiển vi, các tế bào đó thay đổi theo các chức năng khác nhau. Đến lượt
các tế bào này được cấu tạo từ những phân tử nho nhỏ và những phân tử này lại
được cấu tạo từ những nguyên tử - nguyên tử của nhà hóa học là một hạt tối hậu
không thể phân chia được của một nguyên tố hóa học. Những nguyên tử hóa học này
tổ hợp với nhau theo vô số cách để tạo ra các chất khí, chất lỏng và chất đặc của
xác phàm. Đối với nhà Thông Thiên Học thì mỗi nguyên tử hóa học cũng là một sự
vật sống động có thể sống cuộc đời độc lập và mỗi tổ hợp của các nguyên tử đó
thành ra một thực thể phức tạp hơn cũng lại là một sự vật sống động; mỗi tế bào
cũng có sự sống của riêng mình và tất cả các nguyên tử hóa học, phân tử và tế
bào này tổ hợp lại với nhau thành ra một tổng thể có tổ chức tức là một cơ thể
được dùng làm hiện thể có một dạng tâm thức cao siêu hơn so với bất kỳ tâm thức
nào mà các tế bào, phân tử và nguyên tử biết tới trong sinh hoạt riêng rẽ của
mình. Thế mà các hạt hợp thành những cơ thể này đều thường xuyên xuất nhập, các
hạt đó là những khối tập hợp các nguyên tử hóa học nhỏ xíu đến nỗi mắt phàm
không thấy được mặc dù nhiều khối tập hợp đó lại nhìn thấy được qua kính hiển
vi. Nếu ta nhỏ một chút máu rồi quan sát nó dưới kính hiển vi thì chúng ta thấy
trong đó có vận động một số vật thể sống động tức là bạch huyết cầu và hồng huyết
cầu; bạch huyết cầu có cấu trúc và hoạt động gần giống như những con a-míp
thông thường; ta thấy có những con vi trùng liên quan tới nhiều bệnh tật và đủ
thứ trực khuẩn; các nhà khoa học cho chúng ta biết rằng trong cơ thể chúng ta
có những vi trùng thân thiện và không thân thiện. Một số vi trùng gây tổn
thương còn những vi trùng khác vồ lấy và ngấu nghiến những kẻ xâm nhập gây hại
và vật chất đã bị mục rữa. Một số vi trùng xâm nhập từ bên ngoài vào cơ thể
chúng ta nhưng không gây bệnh tật cho cơ thể, có những vi trùng lại làm cho sức
khỏe tăng tiến, vậy là những lớp áo của chúng ta thường xuyên thay đổi vật liệu,
chúng đến và tạm trú trong một lúc rồi lại đi ra để tạo thành bộ phận của các
cơ thể khác – một sự thay đổi và tương tác liên tục.
Thế mà đại đa số loài
người biết rất ít và lại càng chẳng quan tâm tới những sự kiện này; thế nhưng
khả năng tẩy trược xác phàm khiến cho nó là hiện thể thích hợp hơn đối với chơn
nhơn lại xoay quanh những sự kiện ấy. Người bình thường bỏ mặc cho cơ thể được
kiến tạo theo một cách nào đó từ những vật liệu cung ứng cho nó mà không màng tới
bản chất của những vật liệu đó, y chỉ quan tâm xem món ăn có khoái khẩu và dễ
chịu đối với ham muốn của mình hay chăng chứ không quan tâm xem chúng thích hợp
hay không thích hợp với việc tạo ra một chỗ trú thanh khiết và cao cả cho Chơn
ngã vốn là chơn nhơn sống đời đời. Y chẳng thèm giám sát những hạt này khi
chúng đến rồi lại đi, chẳng tuyển lựa mà cũng chẳng vứt bỏ, cứ phó mặc cho mọi
chuyện tha hồ được xây dựng vào chẳng khác chi một người thợ hồ vô ý vô tứ cứ
chụp đại bất kỳ thứ rác rưởi nào để làm vật liệu xây nhà: len và tóc trôi nổi,
bùn đất, mảnh vụn, cát, móng chân tay, đồ ô uế và đồ thiu thối thuộc bất cứ thứ
nào. Phàm nhơn chính là kẻ xây nhà đích thực đối với cơ thể mình. Vậy thì việc
tẩy trược cho xác phàm cốt ở quá trình cố ý tuyển lựa các hạt được phép cấu tạo
nên nó; con người sẽ chỉ tiếp nhận dưới dạng thực phẩm những thành phần thanh
khiết nhất mà y có thể nhận được và vứt bỏ thành phần không thanh khiết, thô
trược; y biết rằng do thay đổi tự nhiên, các hạt kiến tạo nên xác phàm trong thời
gian y còn sinh hoạt bừa bãi sẽ dần dần mất đi ít ra là chỉ nội trong bảy năm –
mặc dù quá trình này có thể được đẩy nhanh lên đáng kể - thế là y quyết tâm
không xây dựng vào xác phàm điều gì không tinh khiết nữa; khi y gia tăng những
thành phần thanh khiết thì y tạo ra trong cơ thể mình một đội quân phòng vệ hủy
diệt được bất kỳ hạt ô uế nào lọt vào trong cơ thể từ bên ngoài hoặc len lỏi
vào trong cơ thể mà không được y tán thành; và y còn canh giữ nó hơn nữa bằng một
ý chí chủ động sao cho nó sẽ được thanh khiết, và khi tác động bằng từ khí liên
tục đẩy lùi mọi tạo vật không tinh khiết ở gần mình, chúng còn lâu mới xâm nhập
được vào cơ thể y; vậy là y khiến cho chúng không thể xâm nhập được vào thể xác
trong khi y đang sống trong một bầu không khí thấm đẩm đủ thứ điều không tinh
khiết.
Khi một người đã quyết
tâm tẩy trược thể xác mình và khiến cho nó trở thành một dụng cụ thích hợp cho
Chơn ngã hoạt động, thì y đã tiến bước đầu tiên hướng về việc thực hành Yoga –
bước này phải được thực hiện trong kiếp hiện nay hoặc trong một kiếp khác trước
khi y có thể nghiêm túc thắc mắc: “Làm thế nào tôi có thể học được cách tự mình
kiểm chứng những sự thật Thông Thiên Học?” Mọi sự kiểm chứng cá nhân về những sự
thật siêu vật lý đều tùy thuộc vào việc chơn nhơn tức chủ nhơn ông có hoàn toàn
chế ngự được thể xác hay chăng; con người phải kiểm chứng và y không thể kiểm
chứng được điều này trong khi y còn bị cột chặt vào bên trong nhà tù là cái xác
hoặc lúc cái xác đó không được thanh khiết. Ngay cả khi do nhiều kiếp đã thực
hiện giới luật tốt, y kế thừa được một phần những thần thông đã phát triển và
biểu lộ được chúng mặc dù hoàn cảnh hiện tại không thuận lợi thì việc sử dụng
những thần thông này cũng bị cản trở khi y ở trong xác phàm nếu xác đó không
thanh khiết; nó sẽ làm trì độn hoặc xuyên tạc việc vận dụng những thần thông đó
khi chúng tác động qua nó và tường trình của những người đó không đáng tin cậy.
Ta hãy giả sử rằng một
người cố tình quyết tâm có được một thể xác thanh khiết và y lợi dụng sự kiện
thể xác sẽ thay đổi hoàn toàn trong bảy năm hoặc y có thể chọn con đường ngắn
hơn và khó khăn hơn là thay đổi nó nhanh chóng hơn; trong bất cứ trường hợp nào
thì y cũng phải tức khắc bắt đầu tuyển lựa vật liệu để xây dựng thể xác mới cho
trong sạch, lúc đó vấn đề ăn uống sẽ xuất hiện. Y sẽ tức khắc bắt đầu loại ra khỏi
thực phẩm của mình mọi thứ kiến tạo vào trong cơ thể y những hạt không thanh
khiết và gây ô nhiễm. Y sẽ kiêng mọi thứ rượu, rượu mạnh và rượu nhẹ cũng có chất
rượu vì nó sẽ đưa vào trong thể xác y những vi sinh vật thuộc loại ô trược nhất
vốn là sản phẩm của sự phân rã. Bản thân của những vi sinh vật này không có tác
hại nhưng chúng thu hút về mình – và do đó thu hút về bất cứ thể xác nào mà
chúng tạo thành một bộ phận – một số những cư dân vô hình trên cõi trần nhưng
thuộc loại bất hảo nhất của cõi kế tiếp. Những kẻ nghiện rượu đã mất xác phàm
do đó không thể thỏa mãn được sự khao khát chất độc ấy nữa cứ lởn vởn quanh những
quán rượu và xung quanh những bợm nhậu, cố gắng nhập vào xác của những người
đang uống rượu để chia sớt cái thú vui thấp hèn của mình đã cam chịu. Những phụ
nữ thanh lịch ắt phải tránh xa rượu nếu họ thấy được những tạo
vật ghê gớm tìm cách tham gia vào việc hưởng thụ thú vui đó và mối liên hệ mật
thiết mà họ tạo ra với những sinh linh thuộc loại ghê tởm nhất. Các tinh linh
ngũ hành tà vạy cũng bu quanh tư tưởng của kẻ nghiện rượu khoác lấy chất tinh
hoa ngũ hành, còn thể xác thu hút về mình từ bầu không khí xung quanh những hạt
thô trược khác xuất phát từ các cơ thể say mèm và phóng túng, những hạt này lại
được kiến tạo vào trong thể xác làm cho nó thô trược và tồi bại đi. Nếu chúng
ta quan sát những người thường xuyên uống rượu, chế biến hoặc phân phối rượu mạnh,
rượu vang, rượu bia và các loại đồ uống không tinh khiết khác thì chúng ta có
thể thấy thể xác của họ đã trở nên thô trược biết chừng nào. Một người làm ở
nhà máy bia, một chủ quán nhậu – chứ đừng nói tới những người thuộc đủ mọi tầng
lớp trong xã hội mà nhậu nhẹt quá nhiều – những người này đã chứng tỏ trọn vẹn
điều mà mỗi người kiến tạo vào cơ thể mình bất kỳ hạt nào đang gây ra chuyện gì
một phần và từ từ; y càng kiến tạo các hạt này vào thì cơ thể của y sẽ càng trở
nên thô trược. Và cũng như thế với các món khác của chế độ ăn uống, thịt của động
vật có vú, chim, bò sát và cá, thịt của các động vật thuộc loại giáp xác và
loài nhuyễn thể sống dựa vào xác thối rữa – làm thế nào mà những cơ thể được tạo
ra từ những vật liệu như thế lại tinh anh, nhạy cảm, thăng bằng, tế nhị mà vẫn
hoàn toàn mạnh khỏe với sức mạnh và tinh tế của thép đã được trui rèn giống như
thứ mà con người cần tới cho mọi công việc thuộc loại cao siêu hơn? Liệu lại cần
thiết phải nói thêm bài học thực tiễn mà ta có thể học được qua việc nhìn vào
cơ thể của những người sống trong môi trường xung quanh như thế? Ta hãy xem những
người đồ tễ và người bán thịt, và phán đoán xem liệu cơ thể họ có giống như những
dụng cụ thích hợp nhất được dùng cho những tư tưởng cao siêu và những đề tài
tâm linh cao siêu. Thế nhưng chúng chỉ là những sản phẩm đã được hoàn tất của
các lực tác động tỉ lệ (trong mọi cơ thể) với điều được cấp dưỡng theo những
món ăn không tinh khiết mà chính họ cung ứng. Thật vậy con người muốn hiến mình
cho đời sống tâm linh không chú ý gì tới thể xác, nhưng tại sao y lại cản trở
mình bằng một cơ thể không tinh khiết? Tại sao y lại để cho những quyền năng của
mình (cho dù lớn hay nhỏ) đều bị hạn chế, ức chế, bị thu hẹp lại trong toan
tính biểu lộ ra do công cụ của mình là bất toàn một cách không cần thiết?
Tuy nhiên có một khó
khăn cản đường chúng ta mà chúng ta không thể lờ đi; chúng ta có thể chịu nhiều
đau khổ về cơ thể và có thể quyết tâm từ chối không làm cho nó ô uế, nhưng
chúng ta đang sống giữa nhân quần với những người vô ý vô tứ và những người phần
lớn chẳng biết gì về những sự kiện này trong thiên nhiên. Trong một đô thị như
Luân đôn, hoặc thật ra trong bất kỳ thị trấn nào khác ở phương Tây, chúng ta
không thể đi bộ ngang qua đường phố mà không bị tấn công ở mỗi ngã rẽ khúc ngoặc,
và chúng ta càng làm cho thể xác tinh vi thì các giác quan thể xác càng sắc xảo
tế nhị hơn và chúng ta càng phải chịu đau khổ trong một nền văn minh thô trược
và nhiều thú tính biết bao như hiện nay. Khi đi bộ qua những đường phố nghèo
nàn hơn nơi mà mỗi góc phố đều có những quán bia thì chúng ta khó lòng mà thoát
khỏi cái mùi rượu nồng nặc, uế khí xuất phát từ nơi nhậu nhẹt này lấn sang nơi
kế cận – ngay cả những đường phố có tiếng là khả kính cũng bị nhiễm độc như thế;
cũng vậy khi chúng ta phải đi băng ngang qua những lò sát sinh và những cửa
hàng bán thịt. Dĩ nhiên người ta biết rằng khi nền văn minh tiên tiến hơn một
chút thì người ta sẽ dàn xếp được tốt hơn và người ta sẽ đạt được một điều gì
đó khi mọi thứ không trong sạch này được thu gom vào những khu phố đặc biệt nơi
mà những người có nhu cầu có thể tìm được chúng. Nhưng trong khi đó các hạt xuất
phát từ các nơi này vẫn lọt vào trong cơ thể chúng ta và chúng ta hít thở chúng
trong không khí. Nhưng cũng như cơ thể bình thường khỏe mạnh không phải là mảnh
đất để các vi trùng gây bệnh có thể sinh sôi nảy nở được, cũng vậy cơ thể trong
sạch không phải là mảnh đất để cho những hạt không tinh khiết này có thể tăng
trưởng. Ngoài ra như chúng ta thấy có những đạo quân sinh linh luôn luôn làm việc
để giữ cho máu của chúng ta luôn luôn trong sạch, và những đoàn quân vệ sĩ chân
chính này sẽ tấn công bất cứ hạt độc hại nào xâm nhập vào đô thị của cơ thể
trong sạch, hủy diệt nó và xé vụn nó ra. Chúng ta phải chọn lựa xem liệu trong
máu mình nên có những kẻ bảo vệ sự sống này hay chúng ta sẽ làm cho máu chứa đầy
những tên ăn cướp, đi cướp bóc và giết hại những sinh linh tốt. Chúng ta càng
quyết tâm không để cho điều gì thiếu trong sạch xâm nhập vào cơ thể thì chúng
ta càng được củng cố để chống lại những sự tấn công từ bên ngoài.
Người ta đã nói tới
tính tự động của cơ thể và sự thật thì nó là một tạo vật của thói quen và tôi
xin nói rằng có thể lợi dụng được đặc tính này. Nếu nhà Thông Thiên Học nói với
một người tầm đạo nào đó vốn còn lâu mới thực hành Yoga để nhập vào các cõi cao
như sau: “Thế thì bạn phải bắt đầu ngay tức khắc tẩy trược cơ thể, và điều này
phải có trước toan tính thực hành Yoga xứng đáng với tên gọi đó. Vì Yoga thực sự
cũng nguy hiểm cho một cơ thể không trong sạch và vô kỷ luật giống như một
que diêm đối với một thùng thuốc súng”. Nếu nhà Thông Thiên Học bảo như
thế thì rất có thể y sẽ bị đốp chát lại rằng sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng nếu người
ta chọn theo một lộ trình như thế. Sự thật là về lâu về dài thì cơ thể sẽ làm rất
kỹ lưỡng tới điều mà bạn cung cấp cho nó, miễn là bạn cung cấp cho nó một điều
gì đó khiến cho nó khỏe mạnh; và chỉ trong một thời gian ngắn thì nó sẽ thích ứng
với một dạng thực phẩm trong sạch và bổ dưỡng mà bạn đã chọn dùng. Chỉ vì nó là
một tạo vật tự động cho nên chẳng bao lâu sau nó sẽ không còn yêu sách những thứ
mà ta cứ đều đều không cho nó, và nếu bạn lờ đi những yêu sách của nó về các loại
thực phẩm thô trược và nặng mùi thì chẳng bao lâu sau nó có thói quen không
thích những thứ đó. Cũng giống như ngay cả một khẩu vị tự nhiên là mực thước
cũng dội đi với một cảm giác ghê tởm gây bệnh hoạn đứng trước loại thịt thú săn
và thịt nai đang thối rữa nếu nó được gọi là thuộc “cấp cao”; cũng vậy một khẩu
vị thanh khiết sẽ không chịu được mọi thực phẩm thô trược. Giả sử rằng một người
đã nuôi dưỡng cơ thể bằng đủ thứ món không trong sạch thì cơ thể y sẽ lồng lộn
lên yêu sách chúng và y sẽ có khuynh hướng chiều theo nó; và nếu y không chú ý
tới nó cứ đi theo đường lối của mình chứ không theo đường lối của cơ thể thì có
lẽ y sẽ ngạc nhiên mà phát hiện ra rằng chẳng bao lâu sau cơ thể sẽ công nhận
người chủ của mình và phục tùng mệnh lệnh của y, giờ đây nó bắt đầu thích những
thứ mà y cung cấp cho nó và sẽ có thói quen thích những thực phẩm trong sạch,
không ưa những thực phẩm không trong sạch. Thói quen có thể được dùng để trợ
giúp cũng như để ngăn cản, và cơ thể phục tùng khi nó hiểu rằng bạn mới là chủ
nhân ông và bạn không có ý định để cho mục đích cuộc đời mình bị can thiệp bởi
cái chỉ là công cụ mà bạn sử dụng. Thật ra thì chính yếu không phải thể xác có
lỗi mà đúng ra là Kama, tức bản chất dục vọng mới có lỗi. Cơ thể của người lớn
đã tập nhiễm thói quen yêu sách những thứ đặc biệt, nhưng nếu bạn để ý tới một
đứa con nít thì bạn ắt thấy rằng cơ thể của đứa con nít không tự phát yêu sách
những thứ mà cơ thể người lớn khoái trá với những khoái lạc thô trược. Trừ phi
chịu ảnh hưởng của một di truyền thể chất rất xấu, còn thì cơ thể của con nít dội
lại trước rượu và thịt, nhưng người lớn bắt nó ăn thịt, cha mẹ cho nó nhấm nháp
rượu vang trong ly của mình lúc tráng miệng và bảo nó hãy là “người trưởng
thành tuy vẫn còn nhỏ”, cho tới khi đứa bé do khả năng bắt chước của chính mình
và do sự cưỡng bách của những người khác chuyển sang con đường tà vạy. Dĩ
nhiên, nếu những thị hiếu không được trong sạch đã được tập nhiễm và có lẽ những
khao khát xưa cũ của dục vọng đã được khơi dậy mà lẽ ra ta có thể bỏ lơ nó đi,
thì dần dần cơ thể sẽ có thói quen yêu sách những thứ mà nó được cấp dưỡng. Bất
chấp mọi điều này trong quá khứ bạn hãy thay đổi, và khi bạn dẹp bỏ những hạt
khao khát những điều không trong sạch thì bạn sẽ thấy cơ thể mình thay đổi thói
quen và dội lại trước chính cái mùi vị của những sự vật mà nó đã quen vui hưởng.
Khó khăn thật sự cản đường ta chính là việc cải tạo Kama chứ không phải cải tạo
thể xác. Bạn không muốn làm điều đó, còn nếu bạn muốn thì bạn ắt đã làm rồi. Bạn
tự nhủ: “Xét cho cùng thì có lẽ điều đó không quan trọng lắm, tôi không có năng
khiếu về thần thông, tôi không đủ tiến bộ về phương diện này thì như thế nào
cũng được? Bạn sẽ chẳng bao giờ trở nên tiên tiến nếu bạn không cố gắng sống
theo mức cao nhất ở trong tầm với của mình – nếu bạn để cho bản chất dục vọng
can thiệp vào sự tiến bộ của mình. Bạn bảo rằng “tôi muốn có được thần nhãn thể
vía xiết bao, tôi muốn xuất vía đi chu du xiết bao !”, nhưng đến khi thử thách
thì bạn lại thích có một bữa ăn tối “ngon miệng”. Nếu phần thưởng để từ bỏ món
ăn không trong sạch là một triệu bảng Anh vào cuối một năm, thì những khó khăn
đó sẽ biến mất nhanh xiết bao và bạn sẽ tìm ra được cách giữ cho cơ thể vẫn sống
mà không cần tới rượu thịt! Nhưng khi người ta chỉ đề nghị kho tàng vô giá của
một sinh hoạt cao thượng hơn thì khó khăn lại không thể vượt qua được. Nếu người
ta thật sự muốn điều mà người ta giả vờ tự cho là mình muốn thì chúng ta đã có
những thay đổi nhanh chóng hơn nhiều diễn ra xung quanh chúng ta so với mức
chúng ta thấy hiện nay. Nhưng thiên hạ chỉ giả vờ và giả vờ khéo đến nỗi họ tự
lừa gạt mình với ý tưởng là họ đang tha thiết. Thế rồi hết kiếp này sang kiếp
khác, họ cứ tái đi tái lại cái cách sống thiếu tiến bộ như thế trong cả ngàn
năm để rồi một kiếp đặc biệt nào đó họ lại thắc mắc không biết tại sao mình
không tiến bộ, còn một người nào đó lại tiến bộ nhanh như thế ở kiếp này trong
khi mình chẳng tiến bộ gì hết. Kẻ thật sự tha thiết – không phải năm thì mười họa,
mà là kiên trì đều đặn – đều có thể thực hiện sự tiến bộ mà mình muốn; trong
khi kẻ giả vờ thì vẫn ngựa quen đường cũ trong nhiều kiếp sắp tới.
Ở đây dù sao đi nữa việc
tẩy trược cơ thể cũng là để chuẩn bị cho mọi phép thực hành Yoga – chắc chắn là
không phải chuẩn bị hết mà chỉ là chuẩn bị phần cốt yếu. Như vậy cũng đủ cho thể
xác rồi , đó là hiện thể thấp nhất
của tâm thức.
Thể phách
Khoa học vật ký hiện đại
chủ trương rằng mọi sự thay đổi của cơ thể - cho dù nơi cơ bắp, tế bào hoặc dây
thần kinh – đều có kèm theo tác động điện và có lẽ điều đó cũng đúng ngay cả đối
với những sự biến đổi hóa học đang liên tục tiếp diễn. Bằng chứng hùng hồn về
điều này đã được tích lũy do việc cẩn thận quan sát bởi những điện kế nhạy nhất.
Bất cứ khi nào có tác động điện xảy ra thì chất dĩ thái phải có mặt sao cho sự
có mặt của dòng điện chính là bằng chứng về sự có mặt của chất dĩ thái, nó lồng
vào và bao xung quanh mọi thứ; không một hạt vật chất nào trên cõi trần mà lại
tiếp xúc với bất kỳ hạt khác song mỗi hạt đều dao động trong một trường dĩ
thái. Nhà khoa học Tây phương khẳng định điều đó là một giả thuyết cần thiết,
còn người đệ tử lão luyện của khoa học Đông phương lại khẳng định điều đó là một
sự quan sát có thể kiểm chứng được vì chất dĩ thái quả thật cũng nhìn thấy được
giống như một cái ghế hoặc một cái bàn, chỉ có điều cần phải có một thị giác
hơi khác với thị giác bình thường trên cõi trần. Như ta có nói, chất dĩ thái tồn
tại theo bốn biến thể, biến thể tinh vi nhất bao gồm các cực vi tử hồng trần
(the ultimate physical atoms) – không phải cái gọi là nguyên tử hóa học, nguyên
tử này thực ra là một thể phức hợp – gọi là cực vi tử hồng trần là vì khi phân
rã chúng sẽ cho ta vật chất của cõi trung giới. [Xem Hóa Học Huyền Bí của
Annie Besant và C.W.Leadbeater.]
Thể phách bao gồm bốn
chất dĩ thái này, chúng lồng vào các thành phần thể đặc, thể lỏng và thể khí của
xác phàm, xung quanh mỗi hạt của xác phàm đều có một lớp vỏ bọc bằng chất dĩ
thái; do đó thể phách là một bản sao hoàn chỉnh của thể thô trược hơn. Người
nào có thị giác lão luyện đều hoàn toàn thấy được thể phách, nó có màu tím xám,
kết cấu của nó thô trược hay tinh vi là tùy theo xác phàm thô trược hay tinh
vi. Bốn chất dĩ thái là thành phần cấu tạo nó, cũng giống như chất đặc, chất lỏng
và chất khí là thành phần cấu tạo xác phàm, nhưng bốn chất dĩ thái có thể tổ hợp
một cách thô trược hoặc tinh vi cũng giống như các thành phần cấu tạo nên xác
phàm. Thật quan trọng mà lưu ý rằng xác phàm và thể phách có chất lượng biến
thiên cùng với nhau sao cho khi người tầm đạo cố ý hữu thức tẩy trược xác phàm
của mình thì thể phách cũng nương theo đó mà y không hề biết tới và cũng chẳng
cần nỗ lực thêm. [Khi dùng thần nhãn của thể vía để quan sát các hạ thể của con
người, thì ta thấy thể phách (Linga Sharīra) và thể vía (Kama rupa) lồng vào
nhau cũng giống như cả hai thể này lại lồng vào xác phàm, vì thế cho nên
trong quá khứ đã có một sự lẫn lộn nào đó; người ta đã dùng các tên gọi Linga
Sharīra hoán chuyển được với thể vía, trong khi tên gọi thể vía lại cũng được
dùng để chỉ Kama rupa tức thể dục vọng. Thuật ngữ mơ hồ này đã gây ra nhiều rắc
rối vì các chức năng của thể vía tức Kama rupa lại thường được hiểu là chức
năng của thể phách cũng được gọi lẫn lộn là thể vía, và người học vì không tự
mình nhìn thấy bằng mắt được nên bị rối rắm một cách tuyệt vọng trong những điều
mâu thuẫn biểu kiến như thế. Việc quan sát kỹ lưỡng sự tạo lập của hai thể này
giờ đây khiến chúng tôi có thể nói dứt khoát rằng thể phách chỉ bao gồm các chất
dĩ thái thuộc cõi hồng trần thôi và nếu nó có xuất ra khỏi xác phàm thì nó cũng
không thể rời được cõi trần và không thể rời xa đối thể thô trược của nó; hơn nữa
nó được kiến tạo theo cái khuôn mà các Đấng Nghiệp Quả Tinh Quân đã áp đặt chứ
không phải do Chơn ngã mang theo, mà phải chờ cho Chơn ngã cùng với xác phàm được
kiến tạo trong cái khuôn đó. Thể vía tức thể dục vọng mặt khác chỉ bao gồm vật
chất của cõi trung giới thôi, khi thoát ra khỏi thể vật lý, nó có thể vân du
trên cõi trung giới, và là hiện thể thích hợp của Chơn ngã trên cõi đó, nó được
Chơn ngã mang theo khi Chơn ngã tái sinh luân hồi. Trong tình huống đó tốt hơn
là ta nên gọi thể đầu tiên là thể phách còn thể thứ nhì là thể vía để tránh lẫn
lộn].
Chính nhờ có thể phách
thì sinh lực, tức Prāna mới chạy dọc theo các dây thần kinh của cơ thể, khiến
cho các dây thần kinh đóng vai trò truyền dẫn lực vận động và sự nhạy cảm với
các tác động bên ngoài. Năng lực tư duy, vận động và cảm giác ở nơi chất liệu
thần kinh hoặc chất dĩ thái thuộc cõi trần; đó là hoạt động của Chơn ngã được vận
hành trong các thể nội giới và biểu hiện của chúng trên cõi trần là khả hữu do
có sinh khí chạy dọc theo các sợi thần kinh và xung quanh các tế bào thần kinh;
đó là vì Prāna, tức sinh khí, là năng lượng hoạt động của Chơn ngã đúng như
Shrī Shankaracharya đã dạy. Chức năng của thể phách là được dùng làm phương tiện
trên cõi trần cho loại năng lượng này, vì thế trong kho tài liệu của chúng ta nó
thường được gọi là “hiện thể của Prāna”.
Ta nên lưu ý rằng thể
phách đặc biệt mẫn cảm với các thành phần cấu tạo dễ bay hơi của rượu.
Các hiện tượng liên
quan tới Thể vật lý
Khi một người “đi ngủ”
thì Chơn ngã thoát ra khỏi thể vật lý, bỏ mặc nó thiu thiu ngủ để phục hồi sức
lực cho ngày làm việc sắp tới. Vậy là xác phàm cùng với thể phách bị bỏ mặc cho
chúng muốn làm gì thì làm và do ảnh hưởng của những thứ mà chúng ta đã thu hút
về mình theo thành phần cấu tạo và những thói quen. Các luồng hình tư tưởng xuất
phát từ cõi trung giới có bản chất tương thích với những hình tư tưởng mà Bản
ngã đã tạo ra hoặc ấp ủ trong sinh hoạt hằng ngày, bèn nhập vào rồi lại xuất ra
khỏi bộ óc phàm và bộ óc dĩ thái, chúng trộn lẫn với những rung động được lập
đi lập lại một cách tự động do Bản ngã đã dựng nên trong ý thức lúc tỉnh táo; kết
quả là gây ra những giấc mơ gián đoạn và hỗn loạn mà hầu hết mọi người đều quen
thuộc. [Xem các bài viết về “Giấc mơ” trong tạp chí Lucifer số tháng
11 và tháng 12 năm 1895, được xuất bản lại dưới dạng sách nhỏ năm 1898]. Những
hình ảnh đứt đoạn này mang tính giáo huấn vì nó cho thấy sự vận hành của thể vật
lý khi nó bị bỏ mặc muốn làm gì thì làm; nó chỉ có thể mô phỏng lại những mảnh
vụn của các rung động quá khứ mà không có sự cố kết hoặc trật tự hợp lý, nó lắp
ráp chúng lại sau khi đã xáo xạo hết lên mặc dù chúng có vẻ đầu voi đuôi chuột
một cách nực cười đến đâu đi chăng nữa; nó chẳng có ý thức gì về sự phi lý hoặc
bất hợp lý mà bằng lòng với một sự huyễn hoặc những hình dáng và màu sắc thiên
biến vạn hóa thậm chí cũng chẳng có sự đều đặn như trong kính vạn hoa. Khi nhận
định theo chiều hướng này thì ta mới dễ dàng công nhận bộ óc của thể xác và thể
phách chỉ là các công cụ của tư tưởng chứ không sáng tạo ra tư tưởng, vì khi bị
bỏ mặc cho muốn làm gì thì làm, tạo vật của chúng có vẻ lập dị đối với ta biết
dường nào.
Khi ta ngủ, Chơn ngã biết
suy tư thoát ra khỏi hai thể này hoặc nói cho đúng hơn là một thể duy nhất với
các bộ phận hữu hình và vô hình, Chơn ngã bỏ mặc chúng lại với nhau; còn khi ta
chết, Chơn ngã cũng thoát ra lần chót nhưng lần này có khác là nó kéo theo thể
phách và tách rời thể phách ra khỏi đối thể thô trược; như vậy khiến cho sinh
khí không còn có thể tác động lên xác phàm trên cương vị là một tổng thể có tổ
chức. Chơn ngã cũng nhanh chóng rũ bỏ thể phách; như chúng ta thấy thể phách
không thể chuyển lên được cõi trung giới và bị bỏ mặc cho tan rã cùng với đối
tác mà nó đã từng ăn đời ở kiếp. Đôi khi nó cũng xuất hiện ngay sau khi chết
cho những người bạn ở không xa lắm nơi xác chết đang nằm; nhưng dĩ nhiên là nó
rất ít ý thức, chẳng nói năng hoặc làm được trò trống gì ngoại trừ việc “hiện
hình” ra. Vì thuộc về cõi trần nên nó cũng tương đối dễ thấy và hệ thần kinh chỉ
căng thẳng một chút thì cũng đủ để cho thị giác bén nhạy nhận ra được nó. Nó
cũng chịu trách nhiệm về nhiều thứ “ma trơi” ngoài nghĩa địa khi nó lởn vởn bên
trên ngôi mộ mà đối thể thô trược của nó đang nằm trong đó, vì những lý do vừa
nêu ta thấy nó dễ dàng hơn thể vía. Như vậy ngay cả “khi chết chúng cũng không
rời xa nhau” nhiều hơn một vài bộ (feet= 0,3048cm) trong không gian.
Đối với người bình thường
thì sự chia tay này chỉ xảy ra vào lúc chết, nhưng có một số người bất bình thường
thuộc loại được gọi là đồng cốt thì ngay trong buổi sinh thời thể vật lý cũng
phần nào tách đôi ra, đây là một điều bất bình thường nguy hiểm và may mắn là
tương đối hiếm có, nó sinh ra rất nhiều sự xáo trộn và căng thẳng thần kinh.
Khi thể phách xuất ra thì chính thể phách bị xé toạc làm đôi; trọn cả thể phách
không thể tách rời khỏi xác phàm mà không khiến cho xác phàm phải chết, vì các
dòng sinh khí cần có thể phách thì mới tuần hoàn được. Ngay cả khi nó chỉ xuất
ra có một phần thì xác phàm cũng lâm vào tình trạng hôn thụy, các hoạt động có
tầm quan trọng sống còn hầu như bị tạm đình chỉ, khi các bộ phận bị tách rời hợp
nhất trở lại thì hậu quả là cực kỳ kiệt quệ và tình trạng của người đồng cốt
cho tới khi đã tái lập được sự hợp nhất bình thường là tình trạng vô cùng nguy
hiểm cho thể xác. Phần lớn những hiện tượng xảy ra khi có mặt người đồng cốt
không liên quan tới việc thể phách bị xuất ra, nhưng một số người có đặc điểm với
tính cách nổi bật là hiện hình được do họ đã tham dự trợ giúp tạo ra hiện tượng
đó thì đưa ra đặc tính này để ta quan sát. Tôi được biết rằng ông Eglinton đã
phô diễn được sự tách rời vật lý kỳ diệu này đến một mức hiếm hoi, ta có thể thấy
thể phách của ông rịn ra khỏi sườn bên trái trong khi xác phàm của ông co rút lại
đáng kể; ta cũng quan sát thấy hiện tượng giống như thế nơi ông Husk, xác phàm
của ông bị teo tóp lại đến nỗi quần áo của ông mặc trở nên rộng thùng thình. Có
một lần thể xác của ông Eglinton bị giảm kích thước nhiều đến nỗi một hình dáng
hiện ra để cho những người lên đồng thấy được: đây là một trong những trường hợp
hiếm có mà cả người đồng cốt lẫn hình dáng hiện ra đều thấy được dưới ánh sáng
đủ để cho người ta khảo sát. Sự co rút lại của người đồng cốt dường như hàm ý
nó đã lấy bớt đi ra khỏi thể xác một lượng vật chất thô trược nào đó “có thể
cân đong đo đếm được” – rất có thể là bộ phận cấu tạo nên chất lỏng – nhưng
theo chỗ tôi biết thì chưa có một sự quan sát nào được thực hiện về vấn đề này,
do đó ta không thể nói chắc chắn được. Điều chắc chắn là thể phách xuất ra một
phần gây nên nhiều xáo trộn về thần kinh, cho nên bất cứ người nào có lý trí
cũng không nên thực hành điều đó nếu y phát hiện ra rằng mình thật không may mà
có thể làm được chuyện này.
Giờ đây chúng ta đã
nghiên cứu thể vật lý cả về bộ phận thô trược lẫn bộ phận dĩ thái, đó là lớp áo
mà Chơn ngã phải khoác lấy để làm việc trên cõi trần, là chỗ trú sẽ có thể là
nơi làm việc tiện lợi để hoạt động trên cõi trần; hoặc là cái nhà tù mà chỉ có
sự chết mới nắm chìa khóa mở ra được. Chúng ta có thể thấy mình nên làm gì và dần
dần có thể làm được gì: một cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh và lực lưỡng đồng thời lại
có tổ chức tinh vi, tế nhị và nhạy cảm. Nó phải khỏe mạnh - ở phương Đông người
ta nhấn mạnh tới sức khỏe là điều kiện để làm đệ tử - vì mọi thứ khiến cho cơ
thể không khỏe mạnh đều làm phương hại cho nó với vai trò là công cụ của Chơn
ngã, và có khuynh hướng xuyên tạc cả những ấn tượng được truyền vào trong lẫn
những sức thôi thúc được phóng ra bên ngoài. Hoạt động của Chơn ngã bị cản trở
nếu công cụ bị căng thẳng hoặc bị sức khỏe kém làm cho nó méo mó. Vậy thì nó phải
là một cơ thể khỏe mạnh, được tổ chức tinh vi, tế nhị, nhạy cảm, tự động đẩy ra
mọi ảnh hưởng tà vạy, tự động tiếp thu mọi ảnh hưởng tốt đẹp; chúng ta nên cố
tình xây dựng nó bằng cách chọn lựa trong số mọi thứ xung quanh ta những thứ
nào có xu hướng đưa tới cứu cánh đó, vì biết rằng ta chỉ hoàn tất nhiệm vụ đó dần
dần nhưng ta vẫn làm việc một cách kiên nhẫn và kiên định với mục tiêu ấy.
Chúng ta sẽ biết khi nào thì mình bắt đầu thành công ngay cả ở mức độ rất giới
hạn vì chúng ta sẽ thấy mở ra cho mình đủ loại khả năng nhận thức mà trước đó
ta không hề có. Ta sẽ thấy mình trở nên nhạy cảm hơn với những âm thanh và cảnh
vật, bén nhạy hơn với những hài âm phong phú du dương và trọn vẹn hơn, bén nhạy
hơn với những sắc thái phơn phớt đẹp đẽ và dễ thương hơn. Cũng giống như người
họa sĩ rèn luyện mắt mình để thấy được những điểm tế nhị về màu sắc mà mắt thường
không thấy được; cũng giống như người nhạc sĩ rèn luyện tai mình để nghe được
những giọng cao của các nốt nhạc mà tai thường không nghe được; cũng vậy chúng
ta có thể rèn luyện các hạ thể của mình để tiếp nhận những rung động tinh vi
hơn trong cuộc sống mà người thường bỏ qua. Quả thật là sẽ có nhiều cảm giác
khó chịu vì thế giới mà chúng ta đang sống trong đó bị loài người sống nơi đây
làm cho thô trược và thô thiển; nhưng mặt khác các vẻ đẹp sẽ bộc lộ ra đền
đáp lại cho chúng ta gấp cả trăm lần những khó khăn mà chúng ta phải đương đầu
và khắc phục. Hơn nữa, chúng ta đâu phải sở hữu những hạ thể đó vì mục đích ích
kỷ hoặc vì hiếu danh hay muốn hưởng thụ mà vì chúng ta sử dụng chúng để hữu dụng
nhiều hơn hầu có thêm sức mạnh phụng sự. Chúng sẽ là những công cụ hữu hiệu hơn
để trợ giúp cho sự tiến bộ của loài người, và như thế thích hợp hơn để góp phần
vào nhiệm vụ thúc đẩy sự tiến hóa của loài người vốn là công tác của các Chơn
sư cao cả mà chúng ta có thể có đặc quyền cộng tác vào.
Mặc dù suốt phần này
trong đề tài của chúng ta, chúng ta chỉ mới ở trên cõi trần nhưng chúng ta cũng
có thể thấy rằng việc nghiên cứu nó đâu phải là không quan trọng và hiện thể tâm
thức thấp nhất của chúng ta cần được chúng ta chú ý và sẽ đền đáp cho sự chăm
sóc của chúng ta. Những đô thị này của chúng ta, vùng đất này của chúng ta sẽ sạch
sẽ hơn, đẹp hơn, tốt hơn khi tri thức này trở thành sự hiểu biết thông thường
và khi người ta chấp nhận nó chẳng những là có lẽ đúng với cái trí mà còn là một
định luật của sinh hoạt hằng ngày.
THỂ VÍA TỨC THỂ DỤC VỌNG
Chúng ta đã nghiên cứu
thể vật lý của con người cả ở bộ phận hữu hình lẫn bộ phận vô hình, và chúng ta
hiểu được rằng con người – thực thể hữu thức sống động – trong ý thức “tỉnh
táo” sinh hoạt trên cõi trần, chỉ có thể biểu lộ tri thức và phô trương quyền
năng theo mức mà mình có thể biểu hiện được thông qua thể xác. Tùy theo sự hoàn
hảo hoặc bất toàn trong việc phát triển nó mà biểu hiện của y trên cõi trần sẽ
hoàn hảo hoặc bất toàn. Nó hạn chế y trong khi y hoạt động nơi hạ giới, tạo
thành “một vòng giới hạn” thật sự xung quanh y. Điều gì không thể đi qua nó thì
cũng không thể biểu lộ trên trần thế vì vậy nó rất quan trọng đối với con người
đang phát triển. Cũng giống như thế, khi con người đang hoạt động mà không có
thể xác trong một cõi khác của vũ trụ, tức cõi trung giới thì y có thể biểu hiện
trên cõi đó tri thức và quyền năng của mình (tóm lại là biểu hiện bản thân
mình) theo mức độ mà thể vía khiến cho y có thể phô bày ra được. Nó vừa là hiện
thể của y lại vừa là hạn chế y. Chơn nhơn vốn nhiều hơn mức các hạ thể của
mình, nó có nhiều điều mà nó không thể biểu lộ hoặc là trên cõi trần hoặc là
trên cõi trung giới; nhưng nó chỉ có thể biểu hiện nhiều đến mức được gọi là
chơn nhơn ở cõi đặc thù đó của vũ trụ. Điều mà nó có thể bị hạn chế phơi bày dưới
đây bởi thể xác, điều mà nó có thể cũng bị hạn chế phô trương ra trong cõi
trung giới bởi thể vía; do đó khi ta vươn lên cao nghiên cứu về các cõi cao hơn
thì ta ắt thấy rằng con người càng ngày càng có thể biểu hiện bản thân ra khi
chính y đã phát triển trong cơ tiến hóa và cũng dần dần đưa các hiện thể tâm thức
đến mức hoàn hảo càng ngày càng cao hơn.
Khi chúng ta nhập vào
những địa hạt tương đối chưa ai bước tới và đa số đều không biết đến thì tốt
hơn ta nên nhắc cho độc giả nhớ rằng ở đây không ai dám khẳng định có được sự
hiểu biết không thể sai lầm hoặc khả năng quan sát hoàn hảo. Những sai lầm về quan
sát và suy diễn có thể xảy ra trên các cõi cao hơn cõi trần cũng như xảy ra
ngay trên cõi trần và ta nên hoàn toàn nhớ kỹ khả năng này. Khi sự hiểu biết
tăng lên do đã được rèn luyện lâu dài thì ta sẽ đạt được sự chính xác nhiều hơn
và những sai lầm như thế sẽ dần dần bị loại bỏ. Nhưng vì tác giả cũng chỉ là một
học viên cho nên cũng rất có thể sẽ phạm phải những lỗi lầm và cần phải được hiệu
đính trong tương lai. Chúng có thể len lỏi vào những vấn đề chi tiết nhưng sẽ
không đụng chạm tới vấn đề nguyên tắc chung và cũng không làm phương hại tới những
kết luận chính yếu.
Trước hết ta nên hiểu
rõ cụm từ cõi trung giới tức cõi tinh tú. Cõi trung giới là một cõi xác định
trong vũ trụ, bao xung quanh và lồng vào cõi trần, nhưng sự quan sát bình thường
của chúng ta không nhận thức được nó vì nó bao gồm một cấp vật chất khác. Nếu
ta lấy cực vi tử hồng trần rồi phân rã nó ra thì nó sẽ bị biến mất xét theo
quan điểm của cõi trần; nhưng ta lại thấy nó bao gồm nhiều hạt thuộc loại thô
trược nhất của vật chất trung giới tức là chất đặc của cõi tinh tú (the astral
world). [Thuật ngữ “tinh tú” ở đây không hay lắm nhưng người ta đã dùng nó
trong biết bao nhiêu thế kỷ để biểu thị loại vật chất siêu vật lý cho nên bây
giờ rất khó mà trục xuất nó đi đâu được. Có lẽ thoạt tiên các quan sát viên đã
chọn dùng cụm từ này do vật chất cõi trung giới có vẻ chiếu sáng so với vật chất
cõi trần. Về trọn cả đề tài này, tôi khuyên học viên nên đọc quyển Cẩm nang số
5, “Cõi Trung Giới” của tác giả C. W. Leadbeater]. Chúng ta đã thấy có bảy
phân trạng thái của vật chất cõi trần – chất đặc, chất lỏng, chất khí và bốn chất
dĩ thái – vô số tổ hợp tạo thành cõi hồng trần đều được phân loại thành bảy
phân trạng thái này. Cũng giống như thế chúng ta có bảy phân trạng thái của vật
chất trung giới tương ứng với cõi trần và ta cũng có thể phân loại vô số tổ hợp
cũng tạo thành cõi trung giới theo bảy phân trạng thái này. Mọi nguyên tử của
cõi trần đều có những vỏ bọc bằng chất trung giới, vậy là chất trung giới tạo
thành cái mà ta có thể gọi là cái khuôn của chất hồng trần, chất hồng trần bị
nhúng chìm bồng bềnh trong chất trung giới. Chất trung giới được dùng làm một
hiện thể cho Jīva (Sự Sống Nhất Như làm linh hoạt vạn vật) và nhờ có chất trung
giới thì các dòng Jīva bao xung quanh, trưởng dưỡng và nuôi dưỡng mọi hạt chất
hồng trần; các dòng của Jīva chẳng những làm sinh ra cái được gọi một cách bình
dân là sinh lực mà còn làm sinh ra mọi năng lượng điện, năng lượng từ, năng lượng
hóa học và các năng lượng khác, sự hấp dẫn, sự cố kết, sự đẩy và mọi thứ giống
như thế đều là sự biến dị của Sự Sống Nhất Như mà vũ trụ bơi lượn trong đó giống
như cá bơi dưới biển. Xuất phát từ cõi trung giới vốn lồng vào chặt chẽ đối với
cõi hồng trần, Jīva chuyển sang chất dĩ thái của cõi hồng trần, thế rồi nó trở
thành hiện thể của mọi thứ lực nêu trên đối với các phân trạng thái thấp của vật
chất hồng trần và chúng ta quan sát thấy tác động của chúng chỉ trong chất hồng
trần thôi. Nếu chúng ta tưởng tượng cõi hồng trần không còn tồn tại nữa, ngoài
ra không có chuyện gì khác thay đổi thì chúng ta vẫn còn có một bản sao hoàn chỉnh
của nó trong chất trung giới; và nếu chúng ta tưởng tượng thêm nữa là mọi người
đều đươc phú cho năng lực hoạt động trong chất trung giới thì thoạt tiên những
người nam nữ đó sẽ không có ý thức gì về sự khác nhau của môi trường xung quanh
mình; những người “chết” mà thức tỉnh ở các cảnh giới thấp của cõi trung giới
thường thấy mình ở trạng thái giống như thế cho nên cứ tưởng rằng mình vẫn còn
sống trên cõi hồng trần. Vì hầu hết chúng ta đều chưa phát triển được thần nhãn
trung giới cho nên cần phải áp đặt thực tại tương đối của cõi trung giới, coi
đó là một phần của vũ trụ hiện tượng và ta quan sát nó bằng mắt của cái trí nếu
không quan sát được bằng thần nhãn trung giới. Nó cũng có thật như cõi hồng trần
– thật ra nó còn có thật hơn nữa vì không cách xa Thực Tại Nhất Như bằng cõi hồng
trần – các hiện tượng của nó vẫn bỏ ngõ để cho người am tường quan sát chẳng
khác nào các hiện tượng thuộc cõi trần. Cũng giống như ở dưới đây, một người mù
không thể thấy được các vật trên cõi trần và biết bao nhiêu vật chỉ có thể quan
sát được nhờ vào các dụng cụ chẳng hạn như kính hiển vi, phổ kế v.v. . ., cõi
trung giới cũng giống như thế. Những người mù đối với cõi trung giới tuyệt
nhiên không thể thấy được các vật thuộc cõi trung giới, và thần nhãn bình thường
của cõi trung giới cũng không thấy được nhiều sự vật. Nhưng ở giai đoạn tiến
hóa hiện nay, nhiều người đã có thể phát triển được các giác quan của thể vía
và phát triển được đến một mức nào đó khiến cho họ có thể tiếp nhận được các
rung động tinh vi của cõi trung giới. Quả thật là những người ấy đều có thể phạm
phải nhiều lầm lỗi giống như một đứa trẻ con phạm sai lầm khi nó bắt đầu sử dụng
các giác quan cùa thể xác; nhưng khi có kinh nghiệm nhiều hơn thì họ sẽ hiệu chỉnh
được các sai lầm đó và chỉ sau một thời gian thì họ có thể trông thấy và nghe
thấy trên cõi trung giới cũng chính xác như trông thấy và nghe thấy trên cõi hồng
trần. Ta không nên cưỡng ép sự phát triển này bằng những phương tiện nhân tạo
vì chừng nào ta chưa phát triển được một mức nghị lực thể chất nào đó thì ta
cũng chưa có thể điều khiển được cõi hồng trần một cách thuận lợi; do đó sự xâm
nhập các cảnh vật và âm thanh cũng như các hiện tượng nói chung thuộc cõi trung
giới chỉ gây ra xáo trộn thậm chí còn đáng báo động nữa. Nhưng đã đến lúc đạt tới
trình độ này để cho ý thức tỉnh táo phải tin vào thực tại tương đối của bộ phận
trung giới thuộc cõi vô hình.
Muốn làm như thế thì chẳng
những chúng ta cần có một thể vía (chúng ta ai lại không có một thể vía) mà
chúng ta còn phải khiến cho nó được tổ chức trọn vẹn theo thứ tự hoạt động, tâm
thức phải quen thuộc với việc hoạt động trong đó chứ không chỉ hoạt động trong
đó thông qua thể xác. Mọi người đều thường xuyên hoạt động qua thể vía nhưng
tương đối có ít người hoạt động trong thể vía khi nó tách rời khỏi thể xác. Nếu
không có tác động nói chung thông qua thể vía thì giữa ngoại giới với cái trí của
con người không thể có mối liên hệ nào giữa những ấn tượng tác động lên giác
quan của thể xác và nhận thức của cái trí cũng không có mối liên hệ nào. Tác động
lên giác quan thể xác trở thành một cảm giác nơi thể vía thế rồi nó mới được
cái trí nhận thức. Thể vía (trong đó có các trung tâm cảm giác) thường được gọi
là con người dục vọng, cũng như chúng ta có thể gọi thể xác là con người hồng
trần; nhưng cố nhiên nó chỉ là một hiện thể - một lớp vỏ theo cách gọi của môn
đồ phái Vedanta – trong đó chính chơn nhơn hoạt động, ta chỉ đạt tới được chơn
nhơn thông qua hiện thể ấy và chơn nhơn cũng đạt tới thể xác tức hiện thể thô
trược thông qua thể vía.
Còn về phần cấu tạo của
thể vía thì nó bao gồm bảy phân trạng thái của chất trung giới, và có thể rút
ra những vật liệu thô trược hoặc tinh vi từ mỗi một phân trạng thái đó. Ta cũng
dễ phác họa một con người ở trong một thể vía hoàn chỉnh; bạn có thể hình dung
là y đã bỏ mất thể xác để đứng trong một bản sao tinh vi hơn và sáng rỡ của nó
trông giống như thể xác đối với thần nhãn trung giới mặc dù vô hình đối với thị
giác bình thường. Tôi có nói là “thể vía hoàn chỉnh” bởi vì một người chậm phát
triển thì thể vía của y phô bày ra một dáng vẻ rất sơ khai. Các đường nét của
nó không xác định, vật liệu của nó trì độn và được sắp xếp lung tung, nếu bị xuất
ra khỏi thể xác thì nó chỉ là một đám mây không có hình dáng tản mác tứ tung,
rõ ràng là không thích hợp để đóng vai trò là một hiện thể độc lập; nói thật ra
thì nó trông giống như một mảnh vật chất trung giới hơn là một thể vía có tổ chức
– giống như một khối nguyên sinh chất trung giới thuộc loại giống như con a
míp. Một thể vía hoàn chỉnh có nghĩa là người ta đã đạt được một trình độ văn
hóa trí thức khá cao hoặc tăng trưởng tâm linh cao khiến cho dáng vẻ của thể
vía mang ý nghĩa sự tiến bộ của chủ nhơn ông; vì đường nét của nó trông xác định,
vật liệu của nó sáng lạn, tổ chức của nó hoàn hảo cho nên người ta có thể thẩm
định được trình độ tiến hóa mà Chơn ngã đang sử dụng nó đã đạt được.
Xét về vấn đề cải thiện
nó – một vấn đề quan trọng đối với tất cả mọi chúng ta – phải nhớ rằng sự cải
thiện thể vía một mặt xoay quanh việc tẩy trược thể vật lý, mặt khác xoay quanh
việc tẩy trược và phát triển thể trí. Thể vía đặc biệt nhạy cảm với những ấn tượng
của tư tưởng vì chất trung giới đáp ứng nhanh nhẹn hơn chất hồng trần đối với mọi
xung lực xuất phát từ cõi trí tuệ. Chẳng hạn như nếu chúng ta quan sát cõi
trung giới thì chúng ta thấy nó có đầy những hình dáng liên tục biến đổi; chúng
ta thấy ở đó có các “hình tư tưởng” – những hình tướng bao gồm chất tinh hoa
ngũ hành (elemental essence) và được tư tưởng làm cho linh hoạt – và chúng ta
cũng lưu ý thấy có những kết khối rất lớn chất tinh hoa ngũ hành này từ đó các
hình tướng liên tục xuất lộ rồi chúng lại biến mất vào trong khối tinh hoa ngũ
hành đó; khi quan sát kỹ lưỡng chúng ta có thể thấy rằng các dòng tư tưởng làm
kích động chất trung giới này, những tư tưởng mạnh mẽ khoác lấy một lớp vỏ bằng
chất trung giới và cứ kiên trì trong đó với vai trò một thực thể trong một thời
gian dài; còn những tư tưởng yếu ớt chỉ khoác lấy một lớp vỏ mảnh mai rồi lại
ngã nghiêng thoát ra khỏi lớp vỏ đó khiến cho mọi thứ trên cõi trung giới cứ
thay đổi luôn theo sự tiếp diễn của các xung lực tư tưởng. Thể vía của con người
vốn được cấu tạo bằng chất trung giới cho nên cũng chia xẻ tính chất sẵn sàng
đáp ứng với tác động của tư tưởng và bị kích động để hưởng ứng với mọi tư tưởng
tác dụng lên nó, cho dù tư tưởng đó xuất phát từ bên ngoài do cái trí của những
người khác hoặc xuất phát từ bên trong do cái trí của chủ nhơn ông.
Chúng ta hãy nghiên cứu
thể vía chịu tác động từ bên trong cũng như bên ngoài. Chúng ta thấy thể vía thấm
nhuần thể xác và ló ra bao xung quanh nó ở mọi hướng giống như một đám mây có
màu sắc. Màu sắc thay đổi tùy theo bản chất của con người, nhất là bản chất thấp
hèn đam mê đầy thú tính của y, và bộ phận ló ra bên ngoài thể xác được gọi là
hào quang thể vía (the kāmic aura) vì nó thuộc về thể dục vọng mà ta thường
quen gọi là thể vía (the astral body) của con người. [Việc tách rời “hào quang”
khỏi con người dường như thể đó là một điều gì khác với bản thân y dễ gây hiểu
lầm, mặc dù xét theo quan điểm của việc quan sát thì điều này rất tự nhiên.
Theo ngôn ngữ thông thường thì “hào quang” là đám mây bao xung quanh thể xác;
thật vậy con người sống trên nhiều cõi khác nhau trong những lớp áo thích hợp với
mỗi cõi, và tất cả các lớp áo hoặc hạ thể này đều lồng vào nhau; lớp áo thấp nhất
và nhỏ nhất được gọi là “thể xác”, còn khối vật chất hỗn hợp của các lớp áo
khác được gọi là hào quang khi chúng ló ra bên ngoài thể xác. Vậy thì hào quang
thể vía chẳng qua chỉ là một bộ phận của thể vía ló ra bên ngoài thể xác]. Đó
là vì thể vía vốn là hiện thể tâm thức của con người, là chỗ trú của mọi dục vọng
và đam mê đầy thú tính, như ta đã nói đó cũng là trung tâm của các giác quan
làm xuất hiện mọi cảm giác. Nó không ngừng thay đổi màu sắc khi nó rung động do
tác động của tư tưởng; nếu một người mất bình tĩnh, cáu kỉnh thì các tia chớp
lóe màu đỏ thẫm sẽ hiện ra; nếu y cảm thấy yêu thương thì màu đỏ hường sẽ kích
động xuyên qua thể vía. Nếu tư tưởng của con người cao siêu và cao cả thì nó
đòi hỏi sự hưởng ứng của vật chất trung giới tinh vi hơn và chúng ta truy
nguyên thấy tác động này đối với thể vía qua việc nó bị mất bớt những hạt thô
trược hơn của mỗi cảnh giới và thu thêm được các hạt thuộc loại tinh vi hơn. Thể
vía của một người có tư tưởng thấp hèn đầy thú tính thì thô kệch, thô thiển và
thô trược, có màu sẫm – thường thường thì nó thô kệch đến nỗi chính đường nét của
thể xác hầu như cũng bị chìm khuất trong nó – trong khi đó thể vía của một người
tiên tiến lại đẹp đẽ, trong trẻo, sáng rỡ và có màu sắc dịu nhạt – là một vật
thật sự đẹp đẽ. Trong trường hợp đó người ta đã chế ngự được các đam mê thấp
hèn và tác động tuyển lựa của cái trí đã tẩy trược cho vật chất trung giới. Vậy
là bằng cách suy nghĩ cao thượng, chúng ta tẩy trược được thể vía thậm chí
chúng ta không hề hoạt động một cách cố ý hướng về cứu cánh đó. Và nên nhớ rằng
hoạt động nội tâm này có một ảnh hưởng mãnh liệt đối với những tư tưởng bị thu
hút vào thể vía từ bên ngoài; một thể vía mà chủ nhơn ông quen đáp ứng với những
tư tưởng tà vạy đóng vai trò một nam châm thu hút những hình tư tưởng giống như
thế ở xung quanh, còn một thể vía thanh khiết tác dụng một năng lượng đẩy lui
những tư tưởng tà vạy và thu hút về mình những hình tư tưởng bao gồm vật chất đồng
khi tương cầu với nó.
Như ta có nói trên kia,
thể vía một mặt còn xoay quanh thể xác và chịu ảnh hưởng do sự thanh khiết hoặc
ô trược của thể xác. Chúng ta đã thấy rằng các chất đặc, chất lỏng, chất khí và
chất dĩ thái cấu tạo nên thể xác có thể là thô trược hoặc tinh vi, thô thiển hoặc
thanh bai. Đến lượt bản chất của chúng lại ảnh hưởng tới bản chất của các lớp vỏ
tương ứng bằng chất trung giới. Nếu vì thiếu khôn ngoan và buông tuồng đối với
thể xác mà chúng ta xây dựng vào trong các hạ thể của mình những hạt chất rắn
thuộc loại ô trược thì chúng ta cũng thu hút về mình cái loại vật chất trung giới
ô uế tương ứng mà chúng ta gọi là chất đặc của trung giới. Còn mặt khác, khi
chúng ta kiến tạo vào trong hạ thể những hạt chất đặc thuộc loại thanh khiết
hơn thì chúng ta cũng thu hút loại vật chất tương ứng thanh khiết hơn của chất
đặc trung giới. Khi ta tiến hành việc tẩy trược thể xác bằng cách cấp dưỡng cho
nó đồ ăn thức uống trong sạch, loại ra khỏi chế độ ăn uống của mình các loại thực
phẩm gây ô nhiễm – máu động vật, rượu và những thứ khác vốn dơ dáy và gây thoái
hóa – chúng ta chẳng những cải thiện được hiện thể tâm thức hồng trần của mình
mà chúng ta cũng còn bắt đầu tẩy trược được thể vía và rút ra được từ cõi trung
giới những vật liệu thanh bai và tinh vi hơn để kiến tạo thể vía. Hậu quả của
việc này chẳng những quan trọng xét về kiếp sống hiện nay trên trần thế mà sau
này chúng ta sẽ thấy nó cũng còn có ảnh hưởng rõ rệt tới tình trạng ngay sau
khi chết, tới việc tạm trú nơi cõi trung giới cũng như tới các loại hiện thể mà
chúng ta sẽ có trong kiếp tới trên trần thế.
Chẳng phải chỉ có thế
mà thôi đâu: cái loại thực phẩm tồi tệ còn thu hút về thể vía các thực thể thuộc
một loại đầy ác ý của cõi trung giới, vì chúng ta đâu chỉ dính dáng tới chất
trung giới mà còn phải giao tiếp với cái gọi là tinh linh ngũ hành của cõi
trung giới. Đây là những thực thể thuộc loại cao siêu và thấp hèn vốn tồn tại
trên cõi này do tư tưởng của con người sinh ra; trên cõi trung giới cũng còn có
những người mất nết bị giam hãm trong thể vía của mình mà ta gọi là các âm ma
(elementaries). Các tinh linh ngũ hành bị thu hút về phía những người có thể
vía đồng khi tương cầu với chúng, còn các âm ma tự nhiên là đi kiếm những người
sa đà vào các thói xấu giống như họ đã từng hăm hở theo kiểu con thiêu thân lao
vào ánh đèn trong khi còn đang mang xác phàm. Khi tản bộ dọc theo những đường
phố ở Luân đôn, bất cứ người nào có thần nhãn trung giới đều trông thấy các tập
đoàn tinh linh ngũ hành ghê tởm bu xung quanh các cửa hàng bán thịt; còn các âm
ma lại đặc biệt tu tập ở các quán bán bia và những bar bán rượu mạnh, chúng phè
phỡn trong những trược khi bốc ra từ hơi men rượu và chỉ chờ cơ hội là nhập vào
xác của chính những bợm nhậu đó. Các âm ma bị thu hút bởi những người kiến tạo
cơ thể mình từ các vật liệu như thế, và một phần sinh hoạt trên cõi trung giới
của âm ma có môi trường xung quanh bao gồm những người ấy. Khi chúng ta càng tẩy
trược thể xác bao nhiêu thì mỗi giai đoạn đó lại càng tương ứng bấy nhiêu với
các giai đoạn tẩy trược vật chất của thể vía trên cõi trung giới.
Thế mà dĩ nhiên là các
khả năng của thể vía tùy thuộc phần lớn vào bản chất của các vật liệu mà chúng
ta kiến tạo vào trong thể vía; nhờ vào quá trình tẩy trược, chúng ta khiến cho
các thể này càng ngày càng tinh vi hơn, chúng không còn rung động hưởng ứng với
những sự thôi thúc thấp hèn và bắt đầu đáp ứng với những ảnh hưởng cao siêu của
cõi trung giới. Vậy là chúng ta đang tạo ra một công cụ mặc dù do chính bản chất
của nó vốn nhạy cảm với những ảnh hưởng xuất phát từ bên ngoài nhưng lại dần dần
mất đi khả năng đáp ứng với những rung động thấp và tiếp thu được khả năng hưởng
ứng với những rung động cao; nhạc cụ này đã được tinh chỉnh để chỉ rung động với
các nốt nhạc cao thôi. Cũng giống như chúng ta có thể lấy một dây đàn tạo ra một
rung động đồng cảm bằng cách chọn đường kính, chiều dài và sức căng của dây đàn
nhắm vào mục đích đó; cũng vậy chúng ta cũng có thể tinh chỉnh thể vía để phát
ra những rung động đồng cảm khi có những hài âm cao quí trổi lên ở thế giới
xung quanh chúng ta. Đây không chỉ là vấn đề suy đoán hoặc lý thuyết mà là vấn
đề sự thực khoa học. Cũng như trên cõi trần chúng ta tinh chỉnh được sợi dây
đàn, cũng vậy trên cõi trung giới, chúng ta có thể tinh chỉnh dây đàn của thể
vía; luật nhân quả ở cõi đó cũng có giá trị như ở cõi này, chúng ta cầu viện tới
định luật, chúng ta tị nạn nơi định luật và chúng ta trông cậy vào định luật.
Chúng ta chỉ cần có hiểu biết rồi ứng dụng sự hiểu biết đó để thực hành. Trước
hết ta có thể coi sự hiểu biết này chỉ là một giả thuyết phù hợp với những sự
kiện mà ta đã biết nơi hạ giới và nếu muốn ta có thể thực nghiệm; sau này khi
ta đã tẩy trược được thể vía thì giả thuyết sẽ biến thành sự hiểu biết; đó là vấn
đề mà ta tự thân quan sát được sao cho ta có thể kiểm chứng lại những lý
thuyết mà thoạt đầu ta chỉ chấp nhận là giả thuyết để kiểm chứng.
Vậy thì khả năng của
chúng ta nhằm làm chủ được cõi trung giới và thật sự phục vụ được trên đó trước
hết tùy thuộc vào quá trình tẩy trược này. Có những phương pháp nhất định của
khoa Yoga giúp ta phát triển được các giác quan của thể vía một cách lành mạnh
và hợp lý, nhưng ta tuyệt nhiên không được cố gắng dạy dỗ những phương pháp này
cho bất cứ ai chưa dùng tới những phương tiện tẩy trược đơn giản vỡ lòng. Có một
kinh nghiệm phổ biến là thiên hạ rất háo hức muốn thử một phương pháp mới mẻ và
bất thường nào đó để tiến bộ, nhưng thật uổng công khi dạy Yoga cho những người
nào thậm chí chưa thực hành những giai đoạn chuẩn bị này trong sinh hoạt đời
thường. Giả sử người ta bắt đầu dạy một dạng Yoga rất đơn giản nào đó cho một
người thường chưa được chuẩn bị. Y sẽ tha thiết và nhiệt tình tiếp nhận nó vì
nó mới mẻ và khác thường, và vì y hi vọng có được những kết quả rất nhanh. Thế
nhưng trước khi y thực hành khoa này thậm chí chỉ được một năm thôi thì y đã cảm
thấy mệt mỏi với cái sự căng thẳng đều đặn của nó trong sinh hoạt hằng ngày và
nản chí vì không thấy có hiệu quả ngay tức khắc; vì không quen với nỗ lực kiên
trì được kiên định từ ngày này sang ngày khác cho nên y sẽ thất bại và bỏ dở việc
thực hành, cái điều mới mẻ nay đã trở nên cũ rích, thế là chẳng bao lâu sau sự
mệt mỏi lại nổi bật lên. Nếu người ta không thể hoặc ắt không thể hoàn thành được
cái nhiệm vụ đơn giản và tương đối dễ dàng tức là tẩy trược thể xác và thể vía
bằng cách dùng tới một sự quên mình tạm thời để phá vỡ sự câu thúc của những
thói quen xấu trong việc ăn uống, thì y thật là hoài công khi khao khát những
quá trình khó khăn hơn vốn hấp dẫn y do chúng có vẻ mới lạ, và chẳng bao lâu
sau y sẽ bỏ dở coi đó là một gánh nặng không thể chịu nổi. Nói tới vịêc áp dụng
những phương pháp đặc biệt thì cũng chỉ hoài công thôi chừng nào ta chưa thực
hành những phương tiện thông thường thấp kém này trong một thời gian nào đó;
nhưng khi ta đã tẩy trược thì những khả năng mới ắt bắt đầu bộc lộ ra. Học viên
sẽ thấy tri thức dần dần tuôn vào, tầm nhìn sâu sắc hơn sẽ dần dần khơi dậy,
các rung động từ mọi phía sẽ tràn vào y, khơi dậy nơi y sự đáp ứng mà y không
thể có được trong lúc còn mù quáng và trì độn. Tùy theo Nghiệp quả trong
quá khứ, sớm muộn gì y cũng có được kinh nghiệm này và cũng như một đứa
trẻ thấu triệt được những khó khăn của bộ chữ cái ắt lấy làm thích thú với quyển
sách mà mình có thể đọc được; cũng vậy học viên sẽ thấy mình có được sự hiểu biết
và kiểm soát được những khả năng mà vào thời còn sống buông tuồng thì y nằm mơ
cũng không thấy được; những viễn cảnh mới về tri thức mở ra trước mắt y, một vũ
trụ rộng lớn hơn bày ra ở mọi phía.
Nếu bây giờ chúng ta chỉ
nghiên cứu trong một lúc về thể vía coi nó hoạt động như thế nào ở hai trạng
thái thức và ngủ thì chúng ta có thể dễ dàng nhanh chóng thẩm định được chức
năng của nó khi nó trở thành một hiện thể tâm thức tách rời khỏi thể xác. Nếu
chúng ta nghiên cứu một người khi y thức và khi y ngủ thì chúng ta ắt biết một
sự thay đổi rất đáng kể của thể vía; khi y đang thức thì các hoạt động của thể
vía – những màu sắc biến đổi v.v. . . – đều biểu lộ ở trong và ngay xung quanh
thể xác; nhưng khi y đang ngủ thì hai thể đã tách rời nhau, chúng ta thấy thể vật
lý – xác phàm và thể phách – cùng nhau nằm lại trên giường còn thể vía trôi nổi
bồng bềnh trong không khí bên trên hai thể này. [Xem các bài viết về “Giấc
Mơ” đã nêu trên để có được sự mô tả đầy đủ hơn]. Nếu người mà chúng ta đang
nghhiên cứu chỉ có hành động phát triển tầm thường thì thể vía khi tách rời khỏi
thể xác chỉ là một khối ít nhiều không có hình dáng như ta đã mô tả trước kia;
nó không thể rời xa khỏi thể xác, nó là một hiện thể vô ích cho tâm thức và con
người bên trong đó ở tình trạng mơ mộng rất lơ mơ vì không quen hoạt động tách
rời khỏi thể xác. Thật vậy, có thể nói y hầu như cũng đang ngủ vì thiếu phương
tiện mà y đã quen làm việc thông qua đó cho nên y cũng không thể tiếp nhận được
những ấn tượng xác định từ cõi trung giới hoặc không thể biểu hiện rõ ràng
thông qua thể vía có tổ chức tồi tàn. Các trung tâm cảm giác trong thể vía có
thể chịu ảnh hưởng của những hình tư tưởng thoáng qua và ở bên trong thể vía y
có thể đáp ứng với những kích thích khơi dậy bản chất thấp hèn, nhưng người
quan sát chỉ thấy được hiệu quả là y đang thiu thiu ngủ lơ mơ, thể vía không có
hoạt động nhất định, trôi nổi dật dờ bên trên thể xác đang nằm ngủ. Nếu có điều
gì có khuynh hướng kéo nó về hoặc đẩy nó đi ra xa khỏi thể xác thì thể xác sẽ tỉnh
dậy ngay và thể vía lại nhanh chóng nhập vào thể xác. Nhưng nếu người mà ta
quan sát tiến bộ hơn nhiều (chẳng hạn như một người đã quen hoạt động trong cõi
trung giới và quen dùng thể vía cho mục đích đó) thì ta ắt thấy rằng khi thể
xác đã ngủ đi và thể vía thoát ra khỏi thể xác thì chúng ta thấy con người xuất
hiện với trọn vẹn ý thức, thể vía có những đường nét rõ rệt và có tổ chức xác định,
nó có vẻ giống như người ấy và người này có thể sử dụng nó làm một hiện thể tiện
lợi hơn nhiều so với thể xác. Y tỉnh táo hơn và hoạt động tích cực hơn, chính
xác hơn với khả năng hiểu biết nhiều hơn so với khi y bị hạn chế trong xác
phàm, và y có thể tự do di chuyển vô cùng nhanh chóng tới nơi nào ở xa mà tuyệt
nhiên không làm náo động thể xác đang nằm ngủ trên giường.
Nếu người đó chưa học
cách nối liền thể vía với thể xác, nếu có một sự gián đoạn ý thức khi thể vía
thoát ra khỏi thể xác lúc y ngủ thiếp đi, trong khi y đang thức tỉnh nhiều hơn
và có ý thức trọn vẹn trên cõi trung giới, thì y cũng không thể gây ấn tượng
lên óc phàm lúc y trở về xác phàm mang theo tri thức mà mình đã thực hiện trong
lúc vắng mặt nơi thể xác. Trong tình huống đó, ý thức lúc “tỉnh táo” của y –
theo thói quen thì người ta gọi cái dạng ý thức hạn hẹp nhất của ta là như vậy
đó – không chia xẻ được kinh nghiệm của con người trên cõi trung giới, chẳng phải
vì chơn nhơn không biết điều đó mà vì thể xác quá trọng trược nên không tiếp
thu được những ấn tượng này. Đôi khi lúc thể xác thức dậy thì nó có cảm giác là
mình vừa mới trải nghiệm một điều gì đó mà không nhớ lại được, thế nhưng chính
cái cảm giác này đã chứng tỏ rằng có một hoạt động nào đó của ý thức trên cõi
trung giới tách rời khỏi thể xác mặc dù bộ óc không đủ khả năng tiếp thu cho
nên không thể nhớ lại được, ngay cả điều phù du đã xảy ra. Có những lúc khác,
khi thể vía trở về nhập xác thì con người lại thành công trong việc gây một ấn
tượng tạm thời lên thể phách và xác phàm, cho nên khi xác phàm thức dậy thì nó
có được một ký ức sống động về một kinh nghiệm mới từng trải trong cõi trung giới;
nhưng ký ức này nhanh chóng tiêu tan đi và không thể nhớ lại được, ta càng cố gắng
nhớ lại thì lại càng thất bại, vì mỗi nỗ lực đều tạo ra những rung động mạnh
trong óc phàm và nó lại càng đè bẹp những rung động tinh vi của thể vía. Hoặc lại
nữa, con người có thể thành công khi ghi khắc kiến thức mới vào óc phàm mà
không thể truyền đạt được ký ức là chẳng biết cái kiến thức đó ở đâu ra hoặc
làm thế nào có được kiến thức đó; trong những trường hợp ấy, các ý tưởng sẽ xuất
hiện trong ý thức tỉnh táo dường như thể là nó tự phát nảy sinh ra, những giải
pháp sẽ xuất hiện đối với những vấn đề trước kia tối tăm. Khi điều này xảy ra
thì đó là dấu hiệu đáng khích lệ của sự tiến bộ vì nó chứng tỏ rằng thể vía có
tổ chức tốt và đang hoạt động tích cực nơi cõi trung giới mặc dù thể xác chỉ
còn tiếp nhận được một phần nào. Tuy nhiên đôi khi con người thành công khiến
cho óc phàm cũng đáp ứng được, bấy giờ chúng ta có cái được coi là một giấc mơ
rất sống động, hợp lý và mạch lạc; cái loại giấc mơ mà hầu hết những người biết
suy tư đều thỉnh thoảng có nếm trải, trong đó họ cảm thấy linh hoạt hơn chứ
không kém so với lúc mình “tỉnh táo”; trong giấc mơ đó họ thậm chí có thể tiếp
thu kiến thức hữu ích cho họ trong sinh hoạt cõi trần. Mọi thứ này đều là các
giai đoạn tiến bộ đánh dấu sự tiến hóa và cải thiện tổ chức của thể vía.
Nhưng mặt khác ta nên
hiểu rõ rằng người ta có thể tiến bộ thật sự (thậm chí tiến bộ nhanh chóng) về
mặt tính linh, có thể hoạt động tích cực nhất và hữu ích nhất trên cõi trung giới
nhưng khi nhập xác phàm lại không ghi được ấn tượng nào lên bộ óc về công việc
mình đã dấn thân vào, mặc dù trong ý thức nơi hạ giới họ càng ngày càng có thể
biết được một sự giác ngộ tăng dần và càng hiểu biết nhiều hơn về sự thật tâm
linh. Có một sự thật mà mọi học viên nên coi là một chuyện khích lệ và họ có thể
đặt đức tin vào đó cho dù ký ức trong óc phàm của họ vẫn trống rỗng về những
kinh nghiệm siêu hồng trần: khi chúng ta học cách càng ngày càng làm việc nhiều
vì những người khác, khi chúng ta cố gắng càng ngày càng trở nên hữu ích cho thế
gian, khi chúng ta càng ngày càng tận hiến mạnh mẽ và đều đặn cho các bậc Huynh
trưởng của nhân loại và càng tha thiết ra sức thực thi hoàn hảo phần chia xẻ nhỏ
bé của ta so với công trình vĩ đại của các Ngài thì tất yếu là chúng ta đang
phát triển thể vía, và khả năng hoạt động trong đó khiến chúng ta trở thành người
phụng sự hữu hiệu hơn. Cho dù óc phàm có nhớ hay chăng thì trong lúc ngủ say
chúng ta vẫn rời bỏ cái nhà tù là xác phàm để làm việc theo những đường lối hữu
ích trên cõi trung giới, giúp đỡ những người mà chúng ta không thể đạt tới họ bằng
cách nào khác được, trợ giúp và an ủi theo những phương thức mà chúng ta không
thể làm sao khác hơn được. Sự tiến hóa này đang diễn ra đối với những người có
tâm trí thanh khiết, tư tưởng cao thượng, tâm hồn được thôi thúc phụng sự. Họ
có thể làm việc nhiều năm trên cõi trung giới mà ký ức trong ý thức nơi hạ giới
không ghi nhận được, và họ có thể vận dụng những khả năng làm điều tốt cho thế
gian vượt xa mức bất cứ thứ gì mà họ giả định rằng mình có thể làm được. Đối với
họ khi Nghiệp quả cho phép thì sẽ có lúc tâm thức hoàn toàn không bị gián đoạn
khiến cho nó tùy ý chuyển từ cõi trần sang cõi trung giới và ngược lại; một nhịp
cầu đã được bắc ra khiến cho ký ức băng từ cõi này sang cõi kia mà không phải cố
gắng, khiến cho con người từ cõi trung giới trở về sau những hoạt động nào đó sẽ
lại mang về với xác phàm trí nhớ mà không mất một chút ý thức nào. Điều này là
tương lai chắc chắn đối với tất cả những người nào tự nguyện sống đời phụng sự.
Một ngày kia họ sẽ đạt được sự liên tục tâm thức đó; lúc bấy giờ đối với họ cuộc
đời không còn là bao gồm những ngày làm việc có ghi nhớ và những đêm làm việc bị
quên lãng, mà cuộc đời sẽ là một tổng thể liên tục; khi con người rời xác thì cứ
bỏ mặc cho nó được an dưỡng như cần thiết, còn chơn nhơn sử dụng thể vía để làm
việc trên cõi trung giới; lúc bấy giờ người ta sẽ giữ cho những mối liên hệ tư
tưởng đó không bị cắt đứt, vẫn có ý thức khi rời bỏ xác và thoát ra khỏi xác,
biết được sinh hoạt trong khi đang ở bên ngoài xác, có ý thức khi lại trở về nhập
xác; như vậy người ta sẽ tiến hành hết tuần này sang tuần khác, hết năm này
sang năm khác, mang theo cái ý thức không mệt mỏi, không bị gián đoạn khiến cho
ta hoàn toàn tin chắc vào sự tồn tại của Chơn ngã với sự thật thể xác chỉ là một
lớp áo mà mình tùy ý có thể mặc vào hoặc cởi ra chứ không chỉ là một công cụ để
sinh hoạt và suy tư. Người ta sẽ biết rằng cho dù không có thể xác thì đời sống
vẫn tích cực hơn nhiều do tư tưởng ít bị ràng buộc hơn nhiều nếu không có thể
xác.
Khi đã đạt tới giai đoạn
này thì con người bắt đầu hiểu được thế gian, và cuộc đời của y sống trên thế
gian ắt tốt hơn hẳn so với trước kia vì y bắt đầu nhận thức được nhiều điều
đang ở tương lai và nhiều khả năng chờ đón nhân loại tiến bộ hơn. Y dần dần hiểu
ra rằng cũng như con người thoạt tiên có ý thức trên cõi trần rồi mới có ý thức
trên cõi trung giới, cũng vậy bên trên y còn trải rộng ra những phạm vi ý thức
cao siêu hơn nhiều mà y có thể đạt được hết mức này tới mức khác. Khi trở nên
hoạt động trên các cõi cao, y lướt qua những thế giới rộng lớn hơn, vận dụng những
quyền năng vô biên hơn và tất cả chỉ là để phục vụ các Đấng Thiêng Liêng nhằm
trợ giúp và mang lại lợi ích cho loài người. Lúc bấy giờ cuộc sống trên cõi trần
bắt đầu có được mức tỉ lệ chân chính, không một điều gì xảy ra nơi cõi trần có
thể ảnh hưởng tới y giống như trước kia nữa vì y đã biết được một cuộc sống
phong phú và viên mãn hơn; sự chết cũng chẳng có thể nào đụng chạm tới y hoặc
là xét về bản thân hoặc là xét về những người mà y muốn giúp đỡ. Cuộc sống trên
trần thế có được vị trí đúng mức là bộ phận nhỏ bé nhất trong sinh hoạt của con
người, nó không còn u ám như đã từng đen tối trước kia vì ánh sáng của các cõi
cao đã chiếu xuống những ngóc ngách âm u nhất.
Trở lại việc nghiên cứu
chức năng và khả năng của thể vía, bây giờ chúng ta hãy xét đến một vài hiện tượng
liên quan tới nó. Thể vía có thể xuất hiện cho những người khác khi nó tách rời
khỏi thể xác hoặc là trong buổi sinh thời hoặc là sau khi đã từ trần. Cố nhiên
là một người đã làm chủ hoàn toàn được thể vía thì có thể rời xác bất cứ lúc
nào và đi tới thăm một người bạn ở cách xa. Nếu người được viếng thăm có thần
nhãn, nghĩa là đã phát triển được tầm nhìn trên cõi trung giới thì y sẽ trông
thấy thể vía của bạn mình; bằng không thì khách viếng thăm có thể làm cho hiện
thể của mình hơi thô đi một chút bằng cách thu hút vào đó các hạt vật chất cõi
trần ở bầu không khí xung quanh, vậy là “hiện hình” (materialize) đủ để khiến
cho mắt phàm trông thấy được. Đây là lời giải thích về nhiều sự hiện hình cho bạn
bè thấy khi ở cách xa, những hiện tượng này thông thường hơn mức hầu hết mọi
người lầm tưởng vì những người nhút nhát rất kín miệng e rằng mình sẽ bị cười
nhạo là mê tín dị đoan. May mắn thay sự e sợ này đã giảm đi rồi và miễn là người
ta có can đảm và óc phân biệt phải trái để nói ra điều mà mình biết là đúng sự
thật thì chẳng bao lâu sau chúng ta sẽ có được rất nhiều bằng chứng về sự hiện
hình của những người có thể xác ở cách xa nơi mà thể vía của họ hiện ra. Trong
một số trường hợp, thể vía này có thể được nhìn thấy bởi những người bình thường
không có thần nhãn mà không cần phải hiện hình. Nếu hệ thần kinh của người nào
đó bị căng thẳng quá độ và thể xác của y đang bị ốm yếu sao cho những mạch động
của sinh khí thoi thóp nhẹ hơn mức bình thường thì hoạt động thần kinh (vốn tùy
thuộc phần lớn vào thể phách) có thể bị kích động quá mức và trong tình huống
đó người ta có thể nhất thời có thần nhãn. Chẳng hạn như một người mẹ biết con
trai mình đang bị đau ốm nguy hiểm nơi đất khách quê người và đang bị dày vò vì
lo cho con thì bà mẹ đó có thể trở nên nhạy cảm với những rung động của cõi
trung giới nhất là trong những giờ vào ban đêm khi sinh khí đạt mức thấp nhất.
Trong tình huống đó, nếu con trai bà cũng nghĩ tới bà và khi xác phàm của y mê
man không biết gì thì nó khiến cho y có thể xuất vía tới viếng thăm bà, và bà rất
có thể nhìn thấy nó. Thông thường ra thì một sự viếng thăm như thế chỉ được thực
hiện khi người ta vừa mời rũ bỏ xác phàm vào lúc chết. Những sự hiện hinh như
thế tuyệt nhiên không hiếm hoi gì, nhất là khi người hấp hối tha thiết muốn đến
với một người nào đó mà mình bị ràng bụôc mật thiết do tình cảm hoặc khi y muốn
truyền đạt mẩu thông tin đặc biệt nào đó và phải từ trần mà chưa mãn nguyện.
Nếu chúng ta theo dõi
thể vía sau khi chết, khi con người đã rũ bỏ thể phách cũng như xác phàm thì
chúng ta sẽ quan sát thấy dáng vẻ của nó thay đổi. Trong khi nó còn dính dáng tới
thể xác thì các phân trạng thái của chất trung giới bị trộn lẫn với nhau, các
loại thô trược và tinh vi lồng vào nhau và quyện lấy nhau. Nhưng sau khi chết
thì có diễn ra sự sắp xếp lại, các hạt thuộc các phân trạng thái khác nhau tách
rời khỏi nhau, có thể nói là được sàng lọc theo thứ tự tỉ trọng riêng của
chúng; vậy là thể vía có tình trạng bị kết tầng, trở thành một loạt các lớp vỏ
đồng tâm trong đó lớp vỏ thô nhất ở ngoài cùng nhất. Thế là ở đây ta đụng tới tầm
quan trọng của việc tẩy trược thể vía trong khi còn sống trên cõi trần, vì sau
khi chết chúng ta thấy thể vía không thể tùy ý lướt qua cõi trung giới được nữa.
Cõi này có bảy cảnh và con người bị hạn chế vào cảnh mà vật chất thuộc lớp vỏ
bên ngoài của y ở trong đó; chỉ khi lớp vỏ ngoài cùng này tan rã thì y mới
thăng lên được cảnh kế tiếp và cứ thế từ cảnh thấp lên cảnh cao. Một người có
khuynh hướng rất thấp hèn đầy thú tính ắt có thể vía chứa nhiều loại chất trung
giới thô trược nhất, và điều này trì kéo y xuống cảnh thấp nhất của Kāmaloka;
chừng nào lớp vỏ này còn chưa tan rã đến mức gần hết thì con người vẫn cứ bị
giam cầm trong cái bộ phận đó của cõi trung giới, và phải cam chịu những phiền
toái của cái nơi chốn bất hảo nhất. Khi lớp vỏ ngoài cùng đã tan rã đúng mức để
cho người ta thoát ra thì con người mới chuyển sang được cảnh kế tiếp của cõi
trung giới; có lẽ nói cho đúng hơn thì y có thể bắt đầu tiếp xúc với những rung
động của cảnh kế tiếp gồm chất trung giới kế tiếp, vậy là y dường như lọt vào một
cõi khác; y ở đó cho tới khi lớp vỏ của cảnh thứ sáu bị hư mòn đi khiến cho y lại
chuyển lên được cảnh thứ năm; việc y tạm trú ờ mỗi cảnh đó tương ứng với tỉ lệ
trong các bộ phận thuộc bản chất y biểu diễn qua thể vía bởi số lượng vật chất
thuộc về cảnh đó. Vậy thì lượng vật chất của các cảnh thô càng nhiều bao nhiêu
thì y càng tạm trú lâu dài bấy nhiêu trên các cảnh thấp của Kāmaloka; trong buổi
sinh thời ta càng dẹp bỏ được những yếu tố đó nhiều bao nhiêu thì đến lúc bước
qua cửa tử, ta càng tạm trú ngắn ngủi bấy nhiêu trên các cảnh của Kāmaloka.
Ngay cả khi chúng ta chưa hoàn toàn loại bỏ được các vật liệu thô – muốn nhổ
hoàn toàn tận gốc rễ chúng cần phải có một quá trình lâu dài và gian khổ - thì
trong buổi sinh thời, tâm thức có thể bị kiên trì triệt thoái khỏi các đam mê
thấp hèn đến nỗi mà vật chất khiến cho các đam mê đó biểu hiện được không còn
tích cực hoạt động giống như một hiện thể tâm thức nữa – nếu ta mượn một sự
tương tự nơi cõi trần thì chức năng đó trở nên teo tóp đi. Trong trường hợp đó,
mặc dù người ta có thể bị níu kéo lại trong một thời gian ngắn trên các cảnh thấp
của Kāmaloka thì y vẫn yên ngủ thanh thản qua suốt thời gian đó mà không cảm thấy
có cái gì khó chịu đi kèm theo trạng thái đó; vì đã không còn tìm cách biểu hiện
thông qua loại vật chất ấy cho nên tâm thức của y không nương theo loại vật chất
đó để túa ra ngoài tiếp xúc với những vật cấu tạo bằng loại vật chất đó nơi
trung giới.
Người nào đã tẩy trược
thể vía đến mức y chỉ giữ lại trong đó những thành phần tinh vi nhất của mỗi cảnh
– sao cho nó sẽ tức khắc chuyển sang vật chất của cảnh kế tiếp ngay bên trên nếu
được nâng lên một chút xíu nữa thôi – thì y sẽ lướt qua Kāmaloka thật sự nhanh chóng.
Có một mức mà ta gọi là mức tới hạn giữa một cặp phân trạng thái của vật chất;
nước đá có thể được nâng lên tới mức mà chỉ cần thêm một chút xíu nhiệt nữa là
nó biến thành nước lỏng; nước lỏng có thể được nâng lên tới mức chỉ cần thêm một
chút xíu nhiệt là nó sẽ biến thành hơi nước. Cũng vậy, mỗi phân trạng thái của
chất trung giới có thể được nâng lên tới mức tinh vi đến nỗi chỉ cần thêm một
chút mức tinh vi thì nó sẽ biến thành phân trạng thài kế tiếp. Nếu ta thực hiện
điều này cho mọi phân trạng thái vật chất của thể vía thì nó đã được tẩy trược
đến mức tinh vi tột độ cho nên nó lướt qua Kāmaloka nhanh không thể tưởng tượng
nổi và con người bay vút qua đó lên tới các cõi cao dễ như trở bàn tay.
Còn một vấn đề khác
liên quan tới việc tẩy trược thể vía cả về tiến trình thể xác lẫn tiến trình thể
trí, đó là hiệu quả của việc tẩy trược đối với thể vía mới mà đến đúng lúc thì
nó sẽ được tạo ra để dùng cho kiếp sắp tới. Khi con người chuyển ra khỏi
Kāmaloka để nhập vào Devachan, thì y không thể mang theo các hình tư tưởng thuộc
loại tà vạy lên Devachan; chất trung giới không thể tồn tại nơi cảnh Devachan
và vật chất của Devachan không thể đáp ứng với những rung động thô của các cơn
đam mê và ham muốn tà vạy. Do đó khi con người cuối cùng rũ bỏ hết những
tàn dư của thể vía, y chỉ có thể mang theo những khuynh hướng hoặc mầm mống tiềm
tàng; những thứ này sẽ biểu lộ thành các đam mê và ham muốn tà vạy nơi cõi
trung giới khi chúng kiếm được đủ thực phẩm để nuôi dưỡng chúng và tìm được lối
thoát ra bên ngoài. Nhưng y vẫn mang theo các chủng tử này và chúng cứ tiềm
tàng suốt sinh hoạt trên Devachan của y. Khi y trở lại tái sinh thì y vẫn đem
theo những chủng tử đó trở lại và thúc đẩy cho chúng biểu lộ ra ngoài; chúng
thu hút từ cõi trung giới (qua một loại ái lực từ khí) những vật liệu thích hợp
cho chúng biểu lộ, khoác lấy chất trung giới đồng khí tương cầu với mình để tạo
thành thể vía của con người trong kiếp sắp tới. Vậy là chúng ta không thể sống
với thể vía ngay bây giờ mà còn hình thành cái loại thể vía thuộc về chúng ta
trong kiếp tới – đây là một lý do thêm nữa cho ta phải tẩy trược thể vía thuộc
kiếp này đến mức tối đa bằng cách vận dụng sự hiểu biết trong kiếp này để bảo đảm
sự tiến bộ trong kiếp vị lai.
Đó là vì mọi kiếp của
chúng ta đều được liên kết với nhau và không một kiếp nào có thể được tách rời
khỏi những kiếp ở phía sau nó hoặc những kiếp trải ra trước mắt nó. Thật ra thì
chúng ta chỉ có một sự sống duy nhất, trong đó cái mà chúng ta gọi là các kiếp
thật sự chỉ là các ngày. Chúng ta chưa bao giờ bắt đầu một kiếp sống mới bằng một
tờ giấy sạch sẽ trên đó ta viết được một câu chuyện hoàn toàn mới; chúng ta chỉ
bắt đầu một chương mới vốn phải triển khai bố cục cũ. Chúng ta không thể dứt bỏ
được những món nợ nghiệp báo của một kiếp trước chỉ bằng cách trải qua sự chết
thôi, cũng như chúng ta không dứt bỏ những món nợ tiền bạc mà ta đã vay một
ngày nào đó bằng cách chỉ ngủ qua một đêm; nếu hôm nay chúng ta vay nợ thì ngày
mai chúng ta không thoát được nợ và chúng ta cứ bị đòi nợ hoài cho đến khi
chúng ta đã trả nợ xong. Cuộc sống của một người vốn liên tục, không bị ngắt
quãng; các kiếp trên trần thế đều được liên kết với nhau chứ không rời rạc biệt
lập. Các quá trình tẩy trược và phát triển cũng liên tục và phải được tiến hành
qua nhiều kiếp liên tiếp trên trần thế. Có một lúc nào đó, mỗi một trong chúng
ta phải bắt đầu làm việc; có một lúc nào đó mỗi người đều đâm ra mệt mỏi với những
cảm giác của bản chất thấp hèn, chán ngán khi phải cam chịu thân phận đầy thú
tính, ngao ngán với sự tàn bạo của các giác quan. Lúc bấy giờ người ta không
còn cam chịu khuất phục nữa, y sẽ quyết định phải phá vỡ những ràng buộc câu
thúc mình. Thật vậy, tại sao chúng ta phải kéo dài sự ràng buộc đó khi ta có
quyền phá vỡ nó bất cứ lúc nào? Không bàn tay nào trói buộc chúng ta ngoại trừ
bàn tay của chính ta và cũng không có bàn tay nào giải thoát được ta ngoại trừ
bàn tay của chính ta. Chúng ta có quyền chọn lựa, có quyền tự do ý chí và xét
vì một ngày nào đó tất cả chúng ta đều cùng nhau sát cánh trên các cõi cao thì
tại sao chúng ta lại không ngay tức khắc bắt đầu phá vỡ sự ràng buộc của mình
và đòi hỏi quyền thừa kế thiêng liêng của mình. Việc bắt đầu dẹp tan mọi xiềng
xích để có được tự do xảy ra khi con người quyết định rằng mình sẽ khiến cho bản
chất thấp hèn phải phục tùng bản chất cao thượng; lúc đó ở đây trên cõi ý thức
hồng trần, y bắt đầu kiến tạo các thể cao và ra sức thực hiện những khả năng
cao siêu vốn thuộc quyền thiêng liêng của y và chỉ bị mờ tối đi do thú tính mà
y đang sinh hoạt trong đó.
CÁC THỂ TRÍ
Chúng ta đã nghiên cứu
khá dài dòng về thể vật lý và thể vía của con người. Chúng ta đã nghiên cứu thể
vật lý cả về bộ phận hữu hình lẫn bộ phận vô hình hoạt động trên cõi trần;
chúng ta đã theo dõi đủ thứ đường lối hoạt động của nó, đã nghiên cứu bản chất
sự tăng trưởng của nó và đã bàn dông dài về sự tẩy trược nó dần dần. Thế rồi
chúng ta lại xét tới thể vía cũng theo cách giống như vậy, truy nguyên sự tăng
trưởng và các chức năng của nó, bàn tới những hiện tượng liên quan tới sự biểu
lộ của nó trên cõi trung giới cũng giống như sự tẩy trược nó. Thế là chúng ta
đã có được một ý tưởng nào đó về hoạt động của con người ở hai trong số bảy cõi
lớn trong vũ trụ. Sau khi đã làm như thế, giờ đây chúng ta có thể chuyển sang
cõi lớn thứ ba tức cõi trí tuệ; khi chúng ta học biết được một điều nào đó về
cõi này thì chúng ta đã xét đến các cõi hồng trần, cõi trung giới và cõi trí tuệ
- bầu hành tinh của chúng ta cùng với hai hình cầu bao xung quanh nó – là một
cõi tam bội, trong đó con người hoạt động trong khi đang lâm phàm trên cõi trần
và y cũng ở trong đó suốt những thời kỳ giữa lúc chết, tức là khi kết liễu một
kiếp trên trần thế và lúc sinh ra vốn khai trương một kiếp khác. Ba hình cầu đồng
tâm này là cõi giới và cũng là trường học của con người: y tiến hành sự phát
triển của mình trong đó, y thực hiện cuộc hành hương tiến hóa của mình trong
đó, y không thể vượt ra khỏi nó một cách hữu thức chừng nào mà cánh cổng Điểm đạo
chưa mở ra trước mặt y, vì không có cách nào khác để thoát ra khỏi ba cõi này.
Cõi thứ ba (mà tôi gọi
là cõi trí tuệ) bao gồm mặc dù không đồng nhất với cõi quen thuộc với các nhà
Thông Thiên Học được gọi tên là Devachan, tức Devaloka (cõi của Chư thiên), cõi
cực lạc hạnh phúc (theo một số người dịch ra như thế). Devachan mang tên đó do
bản chất và tình trạng của nó, không một điều gì dính líu vào cõi này có thể
gây ra sự đau khổ hoặc phiền não; đó là một trạng thái được bảo vệ đặc biệt khiến
cho không một điều ác tích cực nào được phép xâm nhập vào, đây là nơi an dưỡng
cực lạc của con người để cho y yên tâm đồng hóa những thành quả của kiếp sống
trên cõi trần.
Ta cần đưa ra một lời
giải thích sơ bộ về cõi trí tuệ nói chung để tránh sự lẫn lộn. Trong khi nó
cũng được chia nhỏ ra thành bảy cảnh giống như các cõi khác thì nó lại có đặc
điểm là bảy cảnh này được nhóm lại thành ra hai tập hợp – một tập hợp gồm ba cảnh
và một tập hợp gồm bốn cảnh. Ba cảnh trên được gọi theo thuật ngữ chuyên môn là
arūpa, tức vô sắc giới vì chúng cực kỳ tinh vi; còn bốn cảnh dưới được gọi là
rūpa, tức sắc giới. Do đó con người có hai hiện thể tâm thức để cho y hoạt động
trên cõi này mà ta đều có thể áp dụng thuật ngữ thể trí để gọi chúng. Tuy nhiên
thể thấp hơn (thế mà ta sẽ bàn tới trước tiên) được phép độc quyền sử dụng tên
gọi này cho tới khi ta tìm ra được một thuật ngữ hay hơn, vì thể cao đã được biết
là thể nguyên nhân (the causal body) bởi những lý do mà sau này ta sẽ hiểu rõ.
Các học viên ắt đã quen thuộc với sự phân biệt giữa Thượng trí và Hạ trí; thể
nguyên nhân là hiện thể của Thượng trí, là thể thường tồn của Chơn ngã, tức
Chơn nhơn kéo dài từ kiếp này sang kiếp khác; thể trí là hiện thể của Hạ trí,
sau khi chết vẫn sống còn rồi chuyển vào Devachan nhưng vẫn bị tan rã khi sinh
hoạt trên các cảnh sắc giới thuộc Devachan đã qua rồi.
(a) Thể Trí
Hiện thể tâm thức
này thuộc về (và được cấu tạo bởi) vật chất của bốn cảnh thấp thuộc Devachan.
Trong khi nó đặc biệt là hiện thể của tâm thức đối với bộ phận này của cõi trí
tuệ thì nó vẫn tác động lên và thông qua thể vía cũng như thể xác với mọi biểu
lộ mà chúng ta gọi là biểu lộ của cái trí trong ý thức tỉnh táo thông thường của
chúng ta. Thật vậy, nơi người kém phát triển, nó không thể hoạt động riêng rẽ
trên cõi của mình thành một hiện thể độc lập của tâm thức trong khi y còn sống
trên cõi trần, và khi một người như thế vận dụng các năng lực trí tuệ của mình
thì chúng phải khoác lấy vật chất thuộc cõi trung giới và cõi trần trước khi y
có thể có ý thức về hoạt động của chúng. Thể trí là hiện thể của Chơn ngã, tức
là Chủ thể tư tưởng đối với mọi công trình lý luận, nhưng trong khi còn sinh hoạt
sơ khai thì thể trí được tổ chức tồi tệ, hơi sơ khai và thiếu phương tiện
giống như thể vía của người kém phát triển.
Vật chất cấu tạo
nên thể trí thuộc một loại cực kỳ loãng và tinh vi. Chúng ta đã thấy rằng
chất trung giới kém thô trược hơn hẳn so với ngay cả chất dĩ thái của cõi trần
và bây giờ chúng ta phải mở rộng quan niệm về vật chất của mình ra thêm nữa để
bao trùm ý tưởng về một chất mà thần nhãn thuộc cõi trung giới cũng như thị
giác thuộc cõi trần không thấy được; nó quá tinh vi cho nên các giác quan “nội
giới” của con người thậm chí cũng không nhận thức được. Vật chất này thuộc về
cõi thứ năm tính từ trên xuống hoặc cõi thứ ba tính từ dưới lên trong vũ trụ của
ta; Chơn ngã biểu hiện thành cái trí trong vật chất này còn trong vật chất kế
tiếp bên dưới nó (chất trung giới) thì Chơn ngã biểu lộ thành cảm giác. Có một
đặc điểm nổi bật về thể trí vì bộ phận bên ngoài của nó biểu hiện thành hào
quang của con người; thể trí tăng trưởng, có kích thước và hoạt động tăng lên hết
kiếp này tới kiếp khác tùy theo sự tăng trưởng và phát triển của chính con người.
Đặc điểm này là điều mà cho đến nay chúng ta đã quen thuộc. Một thể vật lý được
kiến tạo ra hết kiếp này đến kiếp khác, thay đổi tùy theo quốc tịch và giới
tính, nhưng chúng ta nghĩ về nó xét theo kích thước cũng giống hệt như từ thời
châu Atlantis. Còn xét về thể vía thì khi con người tiến bộ chúng ta thấy tổ chức
của nó cũng được tăng trưởng. Nhưng theo sát nghĩa thì thể trí tăng trưởng về
kích thước khi con người tiến hóa vượt lên. Nếu chúng ta nhìn vào một người rất
chậm phát triển thì chúng ta ắt thấy rằng thể trí thậm chí còn khó phân biệt
hơn, nghĩa là nó tiến hóa ít đến nỗi ta cần phải hết sức kỹ lưỡng mới thấy được
nó. Thế rồi khi ta nhìn vào một người tiến bộ hơn, người này không có tính linh
nhưng đã phát triển được các năng lực của cái trí, y đã rèn luyện và phát triển
được trí năng; chúng ta ắt thấy rằng thể trí của y có một sự phát triển rất xác
định; nó có một tổ chức khiến ta nhận ra nó là một hiện thể để hoạt động; nó là
một vật có đường nét rõ ràng và xác định, có vật liệu tinh vi, màu sắc đẹp đẽ,
không ngừng rung động và hoạt động dữ dội, đầy sức sống, sung sức, biểu hiện được
cái trí trong cõi trí tuệ.
Xét về bản chất thì nó
được tạo ra bằng vật chất tinh vi; xét về chức năng thì nó là hiện thể trực tiếp
để cho Chơn ngã biểu lộ thành trí năng; xét về sự tăng trưởng thì nó tăng trưởng
hết kiếp này sang kiếp khác tỉ lệ với sự phát triển của trí năng, nó càng ngày
càng có tổ chức xác định hơn khi các thuộc tính và tính chất của cái trí trở
nên càng ngày càng rõ rệt hơn. Cũng giống như thể vía, khi hoạt động liên kết với
các thể vía và thể xác thì nó không phải là một biểu diễn riêng biệt của con
người về hình dạng và đặc điểm vì nó có đường nét hình bầu dục (giống như quả
trứng), dĩ nhiên là lồng vào thể xác và thể vía rồi lại bao quanh các thể này bằng
một bầu hào quang chói sáng khi nó đã phát triển – tôi có nói là nó càng ngày
càng lớn hơn khi trí năng càng tăng trưởng. Không cần phải nói là cái hình dạng
giống như trứng này trở thành một vật rất đẹp đẽ và chói lọi khi con người phát
triển được các năng lực cao siêu của cái trí: thần nhãn trên trung giới không
thể thấy được nó, nhưng thần nhãn cao siêu thuộc về cõi trí tuệ ắt thấy được
nó. Cũng như một người thường không thấy được điều gì thuộc về cõi trung giới mặc
dù cõi trung giới bao quanh y – cho tới khi y đã khai mở được các giác quan của
thể vía; cũng vậy một người chỉ có các giác quan thể xác và thể vía hoạt động
thì chẳng thấy được gì thuộc cõi trí tuệ, chẳng thấy những hình tướng được cấu
tạo bằng vật chất của cõi này nếu y chưa khai mở được các giác quan của thể trí
mặc dù cõi trí tuệ vẫn bao xung quanh chúng ta ở mọi phía.
Những giác quan sắc xảo
hơn này (giác quan thuộc về cõi trí tuệ) khác hẳn những giác quan mà chúng ta
quen thuộc ở dưới đây. Thật ra thì chính từ ngữ “các giác quan” cũng là gọi tên
sai lầm, vì nói cho đúng thì chúng ta nên bảo là giác quan của thể trí. Cái trí
bước vào tiếp xúc với các sự vật thuộc cõi của mình dường như thể trực tiếp trên
suốt bề mặt của thể trí. Không có một cơ quan nào dành cho thị giác, thính
giác, xúc giác, vị giác và khứu giác; mọi rung động mà ở cõi này chúng ta nhận
được qua các cơ quan cảm giác riêng biệt thì ở cõi đó chúng lại làm nảy sinh ra
mọi đặc trưng ngay khi chúng tiếp xúc với cái trí. Thể trí tiếp nhận được các
rung động cùng một lúc dường như thể nó có ý thức về đủ mọi thứ vốn có thể gây ấn
tượng lên nó.
Không dễ gì mà diễn tả
nên lời một ý tưởng trong sáng về cách thức giác quan này nhận được một khối tập
hợp các ấn tượng mà không bị lẫn lộn, nhưng có lẽ là mô tả hay nhất bằng cách
nói rằng nếu một học viên lão luyện chuyển sang cõi đó rồi giao tiếp với một học
viên khác trên cõi này thì cái trí khi nói chuyện nói cùng một lúc bằng màu sắc,
âm thanh và hình tướng, sao cho toàn thể tư tưởng được truyền đạt thành ra một
hình ảnh có màu sắc và có âm nhạc thay vì chỉ là một mẩu tư tưởng được bộc lộ
ra mà ở cõi này biểu hiện qua những biểu tượng được chúng ta gọi là từ ngữ. Một
số bạn đọc có thể đã nghe nói tới những quyển cổ thư do các đại Điểm đạo đồ viết
bằng ngôn ngữ màu sắc, tức là ngôn ngữ của Chư thiên; nhiều đệ tử có biết tới
ngôn ngữ đó, xét về hình tướng và màu sắc thì nó được rút ra từ “ngôn ngữ” của
cõi trí tuệ, trên cõi này các rung động của chỉ một tư tưởng thôi cũng làm nảy
sinh ra cả hình tướng lẫn màu sắc và âm thanh. Không phải là cái trí nghĩ ra một
màu sắc, hoặc nghĩ ra một âm thanh, hoặc nghĩ ra một hình tướng; nó chỉ nghĩ ra
một tư tưởng tức là một rung động phức hợp trong vật chất tinh vi và cái tư tưởng
đó biểu hiện theo đủ mọi cách qua những rung động được lập nên như thế. Vật chất
của cõi trí tuệ thường bị kích động thành ra những chấn động làm nảy sinh các
màu sắc, âm thanh và hình tướng này; nếu một người hoạt động trong thể trí tách
rời khỏi thể vía và thể xác thì y ắt thấy mình hoàn toàn được giải thoát khỏi
các hạn chế của các cơ quan cảm giác, tiếp nhận ở mọi điểm những rung động mà
nơi hạ giới sẽ biểu hiện thành ra các rung động riêng biệt khác nhau xuất phát
từ đồng loại.
Tuy nhiên, khi một người
đang suy nghĩ trong ý thức tỉnh táo và đang hoạt động thông qua thể vía cũng
như thể xác thì tư tưởng được tạo ra trong thể trí trước hết phải được truyền
qua thể vía rồi mới xuống tới thể xác; khi chúng ta suy nghĩ thì chúng ta đang
suy nghĩ bằng thể trí, nghĩa là thể trí là tác nhân của tư tưởng, là cái ý thức
biểu hiện thành ra “Bản ngã”. “Bản ngã” vốn hão huyền nhưng đó là “cái Tôi” duy
nhất mà đa số chúng ta đều biết rõ. Khi chúng ta xét tới ý thức trong thể xác
thì chúng ta ắt thấy rằng con người đâu có ý thức về mọi thứ diễn ra trong thể
xác của mình, các hoạt động của thể xác độc lập một phần với con người; y không
thể suy nghĩ giống như các tế bào riêng biệt nhỏ xíu suy nghĩ; y không thể thực
sự chia xẻ được ý thức của cơ thể xét chung. Nhưng khi chúng ta xét tới thể trí
thì chúng ta đang xét một cõi được đồng nhất hóa mật thiết với Chơn nhơn đến nỗi
mà thể trí dường như chính Chơn nhơn. “Tôi suy nghĩ”, “Tôi biết” – liệu ta có
thể nào xét lại được quan niệm đó chăng? Cái Trí là Chơn ngã ở trong thể trí và
nó là cái đích mà hầu hết chúng ta dường như mưu tìm Chơn ngã. Nhưng điều này
chỉ đúng nếu chúng ta hạn chế vào ý thức tỉnh táo thôi. Bất cứ người nào đã học
biết được rằng cũng như các cảm giác của thể vía, ý thức tỉnh táo chỉ là một
giai đoạn trong cuộc hành hương của chúng ta mưu tìm Chơn ngã, và kẻ nào đã học
biết thêm nữa nhằm vượt ra khỏi nó thì ắt biết được rằng bản thân ý thức tỉnh
táo đến lượt nó chẳng qua chỉ là một công cụ của Chơn nhơn. Tuy nhiên như tôi
có nói, hầu hết chúng ta đều không phân biệt khi suy nghĩ cho nên lẫn lộn Chơn
nhơn với thể trí, đối với họ thì thể trí dường như là biểu hiện cao nhất của
Chơn nhơn, là hiện thể cao nhất của Chơn nhơn, là cái bản ngã cao siêu nhất mà
họ có thể tiếp xúc hoặc nhận ra được bằng một cách nào đó. Điều này cũng tự
nhiên thôi và không thể tránh được vì ở giai đoạn tiến hóa này thì Chơn ngã tức
Chơn nhơn chỉ mới bắt đầu làm linh hoạt thể trí và khiến cho nó hoạt động vượt
trội. Chơn nhơn đã làm linh hoạt thể xác để dùng nó làm một hiện thể tâm thức
trong quá khứ và hiện nay đang dùng nó coi như chuyện đương nhiên. Chơn nhơn
đang làm linh hoạt thể vía nơi những thành viên chậm tiến của loài người, nhưng
đối với đại đa số loài người thì công trình này ít ra cũng đã hoàn tất được phần
nào; trong Giống dân Thứ năm hiện nay, Chơn nhơn đang tác động vào thể trí và
công trình đặc biệt mà giờ đây loài người đang dấn thân vào là kiến tạo thể trí
cho nó tiến hóa.
Thế thì chúng ta phải bận
tâm nhiều để tìm hiểu cách xây dựng và tăng trưởng của thể trí. Nó tăng trưởng
bằng tư tưởng. Tư tưởng của chúng ta là vật liệu mà chúng ta kiến tạo vào thể
trí này; bằng cách vận dụng các năng khiếu của trí tuệ, bằng cách phát triển
các năng khiếu nghệ thuật, các xúc động cao siêu theo sát nghĩa chúng ta đang từng
ngày kiến tạo thể trí cũng như từng tháng từng năm trong cuộc đới mình. Nếu
chúng ta không vận dụng các năng khiếu trí tuệ; nếu xét về mặt tư tưởng ta chỉ
tiếp nhận chứ không sáng tạo, nếu ta thường xuyên chấp nhận những gì ở bên
ngoài mình thay vì tự mình tạo ra từ bên trong; nếu khi trải qua cuộc đời mà
trong trí ta chỉ đặc nghẹt những tư tưởng của các người khác; nếu xét về tư tưởng
và suy tư mà ta chỉ biết có thế thôi thì hết kiếp này sang kiếp khác, thể trí của
ta cũng không thể tăng trưởng được, hết kiếp này sang kiếp khác ta ra đi với vốn
liếng bao nhiêu thì trở về cũng với vốn liếng bấy nhiêu; hết kiếp này sang kiếp
khác ta vẫn cứ là một cá nhân chậm phát triển. Đó là vì chỉ nhờ vào việc vận dụng
chính cái trí, sử dụng các năng khiếu của nó một cách sáng tạo, tập luyện nó,
đem nó ra xài, thường xuyên bắt nó cố gắng, thì chỉ có bằng những cách đó ta mới
có thể phát triển được thể trí và mới thật sự xúc tiến được sự tiến hóa chân
chính của con người.
Ngay lúc bạn bắt đầu nhận
ra được điều này thì có lẽ bạn ắt cố gắng thay đổi cái thái độ chung chung của
mình đối với ý thức trong sinh hoạt hằng ngày; bạn bắt đầu quan sát sự vận hành
của nó; và ngay khi bạn làm như thế - như vừa nói trên kia – bạn sẽ nhận thấy rằng
phần lớn sự suy nghĩ của mình thực ra không phải là suy nghĩ gì hết mà chỉ là
tiếp nhận tư tưởng của người khác; bạn cũng chẳng biết tư tưởng đến với mình bằng
cách nào; bạn cũng chẳng biết tư tưởng từ đâu ra mà đến với mình; bạn cũng lại
chẳng biết tư tưởng rời bỏ mình rồi biến đi đâu; thế là bạn sẽ bắt đầu cảm thấy
rằng – có lẽ hơi phiền não một chút và hơi thất vọng một chút – thay vì cái trí
của mình được coi là tiến hóa cao thì té ra nó chẳng khá gì hơn một trạm tiếp vận
để cho tư tưởng được chuyển tiếp qua đó. Bạn cứ thử đi rồi xem nội dung trong ý
thức của mình có bao nhiêu phần trăm là thuộc về chính mình và bao nhiêu phần
trăm chỉ là những đóng góp từ bên ngoài. Thỉnh thoảng bạn hãy đột nhiên dừng lại
trong ngày để xem mình đang nghĩ gì, và khi kiểm tra đột xuất như thế, có lẽ bạn
sẽ phát hiện được rằng mình chẳng nghĩ gì cả - một kinh nghiệm rất thường xuyên
– hoặc mình đang suy nghĩ mơ hồ đến nỗi nó chỉ gây ra một ấn tượng rất hời hợt
đối với một điều nào đó mà bạn dám gọi là cái trí của mình. Khi bạn đã thử làm
như vậy nhiều lần rồi và khi cố gắng đó đã trở nên giúp bạn có ý thức về bản
thân nhiều hơn thì bạn hãy bắt đầu để ý xem những tư tưởng mà mình tìm thấy
trong cái trí mình liệu có gì khác nhau chăng giữa tình trạng của chúng khi
chúng lóe lên vào trong cái trí và tình trạng của chúng khi chúng biến mất ra
khỏi cái trí – tức là xem thử bạn đã thêm gì vào cho tư tưởng đó trong thời
gian chúng tạm trú trong cái trí của mình. Bằng cách này, cái trí của bạn sẽ trở
nên thực sự chủ động và sẽ vận dụng được các năng lực sáng tạo của nó, nếu khôn
ngoan một chút thì bạn nên tuân theo qui trình như sau: trước hết bạn hãy chọn
những tư tưởng mà bạn cho phép nó ở lại trong cái trí mình; bất cứ khi nào bạn
thấy trong trí mình có một tư tưởng tốt thì bạn hãy lưu luyến nó, nuôi dưỡng
nó, củng cố nó, ra sức đầu tư cho nó nhiều hơn mức ban đầu rồi phóng nó ra làm
một tác nhân ban phúc chuyển sang cõi trung giới; khi bạn thấy trong trí mình
có một tư tưởng ác thì bạn hãy tống nó ra nhanh đến mức có thể tưởng tượng được.
Hiện nay thì bạn thấy rằng khi mình hoan nghênh trong trí mình có những tư tưởng
tốt và hữu ích, cũng như từ chối cho tạm trú những tư tưởng ác thì sẽ xuất hiện
kết quả sau đây: càng ngày các tư tưởng tốt từ bên ngoài càng tuôn vào trong
trí bạn và càng ngày các tư tưởng ác càng ít tuôn vào nó. Tác dụng của việc khiến
cho trí mình có đầy tư tưởng tốt đẹp và hữu ích ắt là: cái trí sẽ đóng vai trò
một nam châm thu hút mọi tư tưởng tương tự xung quanh bạn; còn khi bạn từ chối
không cho tư tưởng ác neo đậu vào trí bạn thì những tư tưởng nào đến gần bạn sẽ
bị chính cái trí tự động đẩy lùi. Thể trí phải có đặc tính thu hút mọi tư tưởng
tốt từ môi trường xung quanh và đẩy lùi mọi tư tưởng ác, nó sẽ tác động lên tư
tưởng tốt khiến cho tư tưởng tốt chủ động hơn và nhờ thế thường xuyên thu thập
được một khối vật liệu trí tuệ để hình thành nên nội dung của mình, và cứ mỗi
năm trôi qua thì nó lại càng phong phú hơn. Khi cuối cùng đã đến lúc con người
rũ bỏ thể vía và thể xác để chuyển vào cõi trí tuệ thì y sẽ mang theo mình trọn
cả khối vật liệu được thu gom đó; y sẽ mang theo mình nội dung tâm thức nhập
vào cái cõi thuộc riêng nó và y sẽ sử dụng sinh hoạt trên cõi Devachan để tôi
luyện nó thành ra năng khiếu bằng trọn cả khối vật liệu mà nó đã thu gom được.
Đến khi hết thời kỳ
Devachan thì thể trí sẽ bàn giao cho thể nguyên nhân trường tồn những đặc trưng
đã được tôi luyện như thế để cho chúng có thể được mang sang kiếp tới. Khi con
người tái sinh luân hồi thì các năng khiếu này sẽ khoác lấy vật chất thuộc cõi
sắc giới của cõi trí tuệ, tạo thành thể trí có tổ chức cao hơn và phát triển
cao hơn cho kiếp sắp tới trên trần thế; chúng sẽ bộc lộ qua thể vía và thể xác
thành các “năng khiếu bẩm sinh”, những năng khiếu mà đứa bé mang theo khi đến với
thế giới này. Trong kiếp hiện tại, chúng ta đang thu gom vật liệu theo cách thức
mà tôi đã phác họa; trong sinh hoạt trên cõi Devachan, chúng ta tôi luyện những
vật liệu này, biến chúng từ những nỗ lực riêng rẽ thành ra năng lực tư duy,
thành ra các hoạt động và năng khiếu trí tuệ. Đó là sự thay đổi vô cùng to lớn
được thực hiện trong sinh hoạt nơi cõi Devachan và xét vì nó chỉ bị hạn chế do
việc chúng ta sử dụng kiếp sống trên cõi trần, cho nên bây giờ chúng ta không
nên dè sẻn nỗ lực. Thể trí trong kiếp tới tùy thuộc vào công trình mà chúng ta
đang thực hiện trong thể trí của kiếp này; vậy là ở đây lại có tầm quan trọng
bao la cho cơ tiến hóa của con người khi y đang sử dụng thể trí hiện nay; việc
sử dụng đó sẽ hạn chế hoạt động của y nơi Devachan, và do hạn chế những hoạt động
đó nó cũng hạn chế luôn những phẩm chất trí tuệ mà y sẽ mang theo khi tái sinh
luân hồi trong kiếp tới. Chúng ta không thể tách rời kiếp này ra khỏi kiếp kia,
cũng không thể tạo ra một điều gì đó từ hư vô một cách mầu nhiệm. Nghiệp báo
mang lại vụ gặt tùy theo cái mà chúng ta gieo cấy: được vụ mùa hay mất mùa tùy
theo công cày sâu cuốc bẫm và gieo giống của người canh tác.
Tác động tự động của thể
trí mà ta nói trên đây, có lẽ dễ hiểu hơn nếu chúng ta xét tới bản chất của các
vật liệu mà nó rút ra để kiến tạo thể trí. Trí tuệ Vũ trụ (thể trí liên kết với
trí tuệ vũ trụ xét về bản chất thâm sâu nhất) là kho chứa mà nó rút ra các vật
liệu khi xét về khía cạnh vật chất. Những vật liệu này làm nảy sinh đủ thứ rung
động có phẩm chất và năng lực biến thiên tùy theo các tổ hợp được tạo ra. Thể
trí tự động rút về mình (từ cái kho chứa chung đó) vật chất có thể duy trì được
những tổ hợp đã tồn tại bên trong thể trí, vì trong thể trí cũng như trong thể
xác các hạt thường xuyên thay đổi, và hạt nào vừa rời chỗ thì bị những hạt
tương tự chiếm chỗ ngay. Nếu con người thấy rằng mình có những khuynh hướng xấu
và khởi sự công trình cải tạo chúng thì y bèn lập nên một tập hợp rung động mới,
và thể trí (vốn được khuôn đúc để đáp ứng với những rung động cũ) sẽ chống lại
khuynh hướng mới, thế là có sự xung đột và đau khổ. Nhưng dần dần khi các hạt
cũ bị tống ra ngoài và bị thế chỗ bằng những hạt khác đáp ứng với những rung động
mới – những hạt này bị hút từ bên ngoài vào vì chúng có khả năng hưởng ứng với
những rung động mới – thì thể trí bèn thay đổi tính cách; thật ra thì nó thay đổi
vật liệu và các rung động của nó trở nên đối nghịch với những điều ác và thu
hút điều thiện. Vì thế cho nên vạn sự khởi đầu nan do bị cái khía cạnh hình tướng
cổ hủ của cái trí chận đánh phủ đầu; vì thể cho nên khi cái hình tướng cũ đã
thay đổi rồi thì việc suy nghĩ đúng đắn càng ngày càng dễ và cuối cùng là sự hồn
nhiên và vui sướng đi kèm theo cách vận hành mới.
Một cách khác để giúp
cho việc tăng trưởng thể trí là thực hành việc định trí; nghĩa là gom cái trí lại
cố định nơi một điểm và giữ vững nó ở đó, không cho nó trôi dật dờ hoặc lang
thang. Chúng ta nên rèn luyện mình suy nghĩ kiên định và có thứ tự, không để
cho cái trí đột ngột nhảy từ chuyện này sang chuyện khác, không hao tán năng lượng
vào một số lớn những tư tưởng không quan trọng. Việc thực hành đúng đắn là phải
theo đuổi một đường lối lập luận có thứ tự trong đó tư tưởng này tự nhiên là nảy
sinh ra từ tư tưởng khác có trước nó dần dần phát triển nơi chúng ta những phẩm
chất trí thức khiến cho tư tưởng của chúng ta có thứ tự và do đó cốt yếu là hợp
lý. Đó là vì khi cái trí hoạt động như vậy thì tư tưởng này nối tiếp tư tưởng
kia theo một trình tự xác định ngăn nắp, nó tăng cường bản thân là một công cụ
để Chơn ngã hoạt động trong thế giới trí tuệ. Sự phát triển năng lực suy tư này
bằng cách định trí theo thứ tự ắt biểu lộ thành một thể trí có đường nét rõ
ràng và xác định hơn, nó tăng trưởng càng ngày càng nhanh về mặt kiên định và
thăng bằng, những nỗ lực đó sẽ được đền đáp xứng đáng do sự tiến bộ là kết quả
của chúng.
(b) Thể Nguyên Nhân
Bây giờ chúng ta hãy
chuyển sang thể trí thứ nhì mà chúng ta biết với tên gọi riêng biệt là thể
nguyên nhân. Tên gọi này là do sự kiện mọi nguyên nhân đều ở nơi thể này rồi biểu
lộ thành những hậu quả ở các cõi thấp. Thể này là “thể Thựong trí”, khía cạnh
hình tướng của Chơn ngã, tức Chơn nhơn. Đó là nơi tiếp nhận, kho chứa mọi kho
tàng của con người trong thời gian vĩnh hằng; nó tăng trưởng khi bản chất thấp
hèn càng ngày càng giao nộp nhiều thứ xứng đáng để kiến tạo vào cấu trúc của
nó. Thể nguyên nhân là thể mà mọi thứ khi được dệt vào trong đó đều có thể trường
tồn, nó có chứa đựng mầm mống của mọi phẩm chất được truyền thừa sang kiếp tới.
Như vậy những biểu lộ bên dưới hoàn toàn tùy thuộc vào sự tăng trưởng và phát
triển của Chơn nhơn vì “chưa đến lúc đấy thôi”.
Như ta có nói trên kia,
thể nguyên nhân là khía cạnh hình tướng của Chơn ngã. Ở dưới đây vì chúng ta chỉ
xét tới chu kỳ hiện nay của loài người, cho nên chúng ta có thể nói rằng khi
chưa có thể nguyên nhân thì chưa có chơn nhơn; có thể có những đền thờ tạm trên
cõi trần trọng trược và cõi dĩ thái được chuẩn bị cho chơn nhơn cư trú; những
đam mê, xúc động và khao khát có thể dần dần được thu gom lại để tạo thành bản
chất dục vọng nơi thể vía; nhưng không có chơn nhơn khi chưa hoàn tất được sự
tăng trưởng qua các cõi trần và cõi trung giới, và khi vật chất của cõi trí tuệ
chưa bắt đầu bộc lộ ra bên trong các hạ thể đang tiến hóa. Khi do quyền năng của
Chơn ngã chuẩn bị chỗ ở của chính mình, vật chất của cõi trí tuệ bắt đầu chậm
chạp tiến hóa thì từ đại dương lớn Ātmā–Buddhi (vốn bao giờ cũng giám sát sự tiến
hóa của con người) có một sự tuôn xuống và có thể nói là luồng tuôn xuống này gặp
luồng phát triển dâng lên làm cho vật liệu trí tuệ được mở mang ra, bước vào hiệp
nhất với nó, làm cho nó được đơm hoa kết trái, và vào lúc hiệp nhất đó thì thể
nguyên nhân, tức chơn ngã được tạo thành. Những người có thể nhìn thấy ở các
cõi cao tột này bảo rằng khía cạnh hình tướng của chơn nhơn giống như một lớp
phim thanh bai bằng vật chất tinh vi nhất mà ta chỉ thoáng thấy được, nó đánh dấu
mức độ chơn ngã bắt đầu sinh hoạt riêng biệt, lớp phim không màu sắc, thanh bai
đó bằng vật chất tinh vi chính là cái hiện thể trường tồn qua trọn cả cơ tiến
hóa của con người, là sợi chỉ xuyên suốt mọi kiếp sống, là Sūtrātmā luân hồi, tức
hồn dây (thread self). Đó là nơi tiếp nhận mọi thứ phù hợp với Thiên luật, tiếp
nhận mọi thuộc tính cao cả và hài hòa, do vậy trường tồn. Nó là điều đánh dấu sự
tăng trưởng của con người, trình độ tiến hóa mà y đã đạt được. Mọi tư tưởng
thanh cao và vĩ đại, mọi xúc động cao thượng và thanh khiết đều được đưa lên
trên và tôi luyện thành ra chất liệu của nó.
Chúng ta hãy xem cuộc đời
của một người bình thường để coi cuộc đời đó chuyển lên trên được bao nhiêu thứ
nhằm xây dựng thể nguyên nhân, và chúng ta hãy tưởng tượng phác họa nó là một lớp
phim mỏng manh, nó được củng cố và làm cho đẹp đẽ lên bằng màu sắc, làm cho
linh hoạt lên bằng sinh hoạt, làm cho chói sáng và rực rỡ, gia tăng kích thước
khi con người tăng trưởng và phát triển. Ở giai đoạn tiến hóa thấp, y không bộc
lộ nhiều phẩm chất trí tuệ mà đúng hơn là y biểu lộ nhiều đam mê, nhiều khao
khát. Y cảm nhận được các cảm giác và mưu tìm chúng; y hướng về những sự vật
đó. Dường như thể sự sống nội tâm của chơn nhơn cũng đầu tư một chút vật chất
thanh bai cấu tạo nên mình để cho thể trí tập hợp xung quanh đó; thể trí lại đầu
tư vào cõi trung giới để tiếp xúc ở đó với thể vía và liên kết với nó sao cho tạo
ra một nhịp cầu khiến cho bất cứ thứ nào có thể băng qua đều vượt qua được. Nhờ
cây cầu này chơn nhơn phóng tư tưởng xuống thế giới cảm giác, đam mê, sinh hoạt
thú tính và những tư tưởng cũng trộn lẫn với mọi xúc động và đam mê đầy thú
tính này. Thế là thể trí đâm ra vướng mắc với thể vía, chúng câu kết với nhau đến
mức khó lòng tách ra được khi tới lúc chết. Nhưng nếu trong cuộc đời trải qua ở
các cõi thấp, con người có một tư tưởng vị tha, một tư tưởng phụng sự một người
nào đó mà mình yêu thương, hi sinh một điều nào đó để phục vụ cho bạn mình thì
bấy giờ y đã lập nên một điều nào đó có thể trường tồn, một điều nào đó có thể
sống còn nơi cõi cao vì đồng khí tương cầu với nó; điều đó có thể được chuyển
lên trên tới thể nguyên nhân (thượng trí) và được tôi luyện thành ra chất liệu
của nó, khiến cho nó đẹp đẽ hơn và có lẽ lần đầu tiên có được chút ít màu sắc
chấm phá; có lẽ suốt cả đời của một người chỉ có một vài sự việc có thể trường
tồn được dùng để làm thực phẩm cho chơn nhơn tăng trưởng. Như vậy sự tăng trưởng
rất chậm chạp vì trọn cả phần còn lại của cuộc đời y chẳng giúp gì được vào điều
đó; mọi khuynh hướng ác của y nảy sinh do vô minh và được cấp dưỡng do vận dụng,
đều có mầm mống bị thu rút vào trong biến thành tiềm tàng khi thể vía (vốn là
nơi trú ẩn của chúng và mang lại hình dạng của chúng) phải bị tiêu tan nơi cõi
trung giới; chúng lại bị thu rút vào trong thể trí nằm tiềm tàng ở đó vì thiếu
vật liệu để biểu hiện được trên cõi Devachan; khi đến lượt thể hạ trí cũng bị
tiêu diệt thì chúng lại bị thu rút vào trong thể nguyên nhân và vẫn nằm tiềm
tàng trong đó ở trạng thái bị đình chỉ sinh hoạt. Khi Chơn ngã tái sinh luân hồi
trên trần thế và đã đạt tới cõi trung giới thì chúng lại được bung ra tái xuất ở
đó thành ra các khuynh hướng ác được kế thừa từ quá khứ. Như vậy ta có thể nói,
thể nguyên nhân là kho chứa cả điều thiện lẫn điều ác vốn là tất cả những gì
còn lại của phàm nhơn sau khi các hạ thể đã tan rã, nhưng điều thiện thì được
tôi luyện vào kết cấu của nó để giúp cho nó tăng trưởng, còn điều ác (ngoài trừ
trường hợp được nêu ra dưới đây) vẫn tiềm tàng dưới dạng chủng tử.
Nhưng điều ác mà người
ta thực hiện trên đời, khi thực hiện tư tưởng của mình, không phải chỉ gây hại
cho thể nguyên nhân qua việc nằm tiềm tàng trong đó dưới dạng chủng tử của tội
lỗi và phiền não trong tương lai. Điều ác chẳng những không giúp cho sự tăng
trưởng của chơn nhơn mà bởi vì vật liệu của chơn nhơn vốn tinh vi và trường tồn
cho nên nếu được phép biểu hiện ra thì điều ác còn trấn lột hết một thứ gì đó của
chính chơn ngã. Nếu thói xấu cứ tiếp diễn mãi, nếu ta cứ không ngừng theo đuổi
điều ác, thì thể hạ trí đâm ra câu kết với thể vía đến nỗi sau khi con người chết
đi thể hạ trí không thể hoàn toàn giải thoát được mà một số vật liệu của chính
nó cũng bị trấn lột, và khi thể vía bị tan rã thì lượng vật liệu bị trấn lột
này được trả về cho kho vật liệu trí tuệ của cõi trí tuệ và chơn ngã bị mất trắng
lượng vật liệu đó. Bằng cách này nếu chúng ta lại nghĩ tới hình ảnh về một lớp
phim hoặc một màng bọt, thì trong một chừng mực nào đó do lối sống tội lỗi ta
chẳng những làm trì trệ sự phát triển của chơn ngã mà còn làm cho lớp phim hoặc
màng bọt đó mỏng đi dường như thể vật liệu kiến tạo nên nó đâm ra khó được xây
dựng hơn. Theo một cách nào đó, dường như thể lớp phim này đã bị ảnh hưởng về
năng lực tăng trưởng, nó đã bị tuyệt chủng hoặc teo tóp đi đến một mức nào đó.
Ngoài chuyện này ra thì trong những tình huống bình thường, điều tai hại gây ra
cho thể nguyên nhân không có gì hơn nữa.
Nhưng khi Chơn ngã đã
trở nên dũng mãnh cả về trí năng lẫn ý chí mà đồng thời lại không gia tăng lòng
vị tha và tình thương thì nó co rút lại quanh cái trung tâm biệt lập của mình
thay vì bành trướng ra khi tăng trưởng, nó xây dựng một bức vách ích kỷ xung
quanh mình, sử dụng những quyền năng phát triển được để phục vụ “Bản ngã” thay
vì phục vụ chúng sinh; trong trường hợp đó có khả năng xảy ra điều mà biết bao
nhiêu thánh kinh trên thế giới có ám chỉ; đó là điều ác thâm căn cố đế và nguy
hiểm khi Bản ngã cố tình chống lại Thiên luật, cố ý chống lại cơ tiến hóa. Lúc
bấy giờ, thể nguyên nhân được đào luyện do những rung động của trí năng và ý
chí trên cõi trí tuệ nhưng cả hai đều xoay chuyển phục vụ cho các mục đích ích
kỷ thì thể nguyên nhân phô bày ra những màu sẫm do kết quả của sự co rút lại, mất
đi sự chói lọi làm lóa mắt vốn là đặc trưng của nó. Sự tai hại như thế không thể
được thực hiện do một Chơn ngã kém phát triển cũng như do những lỗi lầm bình
thường về đam mê hoặc trí tuệ; để gây ra tai hại có tầm mức rộng lớn như thế,
Chơn ngã phải tiến hóa cao và có năng lực mạnh mẽ trên cõi trí tuệ. Vì vậy,
chính tham vọng, lòng kiêu ngạo và quyền năng trí thức được dùng vì những mục
đích ích kỷ mới nguy hiểm hơn hẳn, mới có hậu quả chết người hơn hẳn so với những
lỗi lầm rành rành hơn của những bản chất thấp hèn. Và những môn đồ ngụy quân tử
“Pharisi” thường thường lại xa rời “cõi giới Thiên đường” hơn là “kẻ thu thuế
và kẻ tội lỗi”. Nhà “tà thuật” phát triển theo đường lối này, người này đã chế
ngự được đam mê và dục vọng, đã phát triển được ý chí và quyền năng cao siêu của
hạ trí nhưng không vui lòng hiến dâng chúng để trợ giúp cho cơ tiến hóa của tổng
thể, mà chỉ để chụp giựt tất cả những gì có thể phục vụ cho bản thân mình, chỉ
chiếm giữ chứ không chia xẻ. Những người ấy tự mình duy trì thái độ chia rẽ chống
lại sự hiệp nhất, họ phấn đấu để làm trì trệ thay vì xúc tiến cơ tiến hóa: do
đó họ rung động bất hòa với tổng thể thay vì hài hòa với tổng thể, và nảy ra
nguy cơ xé toạc Chơn ngã, nghĩa là bị mất trắng mọi thành quả tiến hóa.
Tất cả chúng ta khi bắt
đầu hiểu được một điều gì đó về thể nguyên nhân đều có thể đặt mục đích nhất định
của đời mình là phải làm cho nó tiến hóa; chúng ta phải phấn đấu suy nghĩ không
ích kỷ để đóng góp cho sự tăng trưởng và hoạt động của nó. Hết kiếp này sang kiếp
khác, hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, hết thiên niên kỷ này sang thiên niên kỷ
khác, cơ tiến hóa vẫn được xúc tiến và khi giúp cho nó tăng trưởng bằng nỗ lực
hữu thức thì chúng ta đang làm việc hài hòa với ý chí của Thượng Đế và thực thi
chủ đích khiến chúng ta có mặt nơi đây. Không một điều gì tốt đẹp đã từng được
dệt vào kết cấu của thể nguyên nhân này mà lại mất đi, không điều gì bị tiêu
tan vì chơn ngã sống đời đời trong đó.
Như vậy, chúng ta thấy
rằng theo luật tiến hóa, mọi điều ác cho dù nhất thời có thể mạnh đến đâu đi
chăng nữa cũng dường như chất chứa nơi bản thân mầm mống để tự hủy diệt mình,
còn mọi điều tốt đẹp đều hàm chứa nơi bản thân hạt giống bất tử. Bí quyết của điều
này vốn ở nơi sự thật là mọi điều ác đều có tính cách không hài hòa, tự nó đã
chống lại định luật vũ trụ; vì vậy sớm muộn gì nó cũng bị định luật đè bẹp, xé
tan ra thành từng mảnh, nghiền nát thành tro bụi. Mặt khác, mọi điều thiện đều
hài hòa với thiên luật nên được nương theo nó, được nó kéo đi để trở thành một
bộ phận của dòng tiến hóa, nghĩa là “đâu phải tự chúng ta làm ra điều công
chính”, vì vậy nó không thể bị tiêu diệt, không thể bị hủy hoại. Đây không thể
chỉ là niềm hi vọng của con người mà còn là sự chắc chắn của chiến thắng tối hậu
của y; cho dù sự tăng trưởng chậm chạp đến đâu đi nữa thì nó vẫn có; cho dù đường
đi có dài đến đâu đi nữa thì nó cũng phải chấm dứt. Chơn ngã vốn đang tiến hóa
và bây giờ không điều gì có thể bị hoàn toàn tiêu diệt, ngay cả khi do điên rồ
chúng ta khiến cho sự tăng trưởng chậm chạp hơn mức lẽ ra nó đã đạt được, song
le mọi thứ mà chúng ta đóng góp vào đó cho dù nhỏ bé đến đâu đi nữa cũng trường
tồn mãi mãi, và chúng ta vẫn sở hữu được nó trong suốt mọi giai đoạn vị lai.
CÁC HIỆN THỂ KHÁC
Chúng ta có thể thăng
lên một mức nữa, nhưng khi làm như thế, chúng ta nhập vào một vùng cao siêu đến
nỗi hầu như vượt khỏi mức mà chúng ta đạt tới, ngay cả khi chỉ tưởng tượng
thôi. Đó là vì thể nguyên nhân không phải là thể cao nhất, và “Chơn ngã” không
phải là Thượng trí mà là Thượng trí kết hợp và hiệp nhất với Buddhi. Đây là đỉnh
cao trong cơ tiến hóa của con người, kết thúc vòng sinh tử luân hồi. Vượt trên
cõi mà chúng ta vừa bàn tới còn có một cõi cao hơn đôi khi được gọi là Turīya,
tức cõi Bồ đề. [Cõi này cũng được gọi là cõi Sushupti. Xem Cẩm nang số 4 và số
5]. Ở đây hiện thể của tâm thức là thể tâm linh Ānandamayakosha, tức thể cực lạc;
các đạo sĩ Yoga có thể nhập vào cõi này và ở trong thể Bồ đề nếm trải cực lạc đời
đời của cõi huy hoàng ấy, thực chứng nơi tâm thức của chính mình sự đơn nhất
căn bản, lúc bấy giờ trở thành một sự thật mà họ trải nghiệm chứ không còn là
niềm tin của cái trí. Chúng ta có thể đọc thấy tới lúc con người đã tăng trưởng
về tình thương, minh triết và quyền năng để trải qua một cánh cổng rộng lớn,
đánh dấu một giai đoạn nhất định trong cơ tiến hóa của mình. Đó là cánh cổng Điểm
đạo và con người lần đầu tiên được Chơn sư nâng lên vượt qua cửa Điểm đạo để nhập
vào thể tâm linh, trải nghiệm trong đó sự đơn nhất vốn là nền tảng của mọi sự
đa dạng trong cõi hồng trần, sự riêng rẽ của cõi trần là cơ sở cho sự biệt lập
thuộc cõi trung giới và ngay cả của cõi trí tuệ nữa. Khi con người đã bỏ lại đằng
sau mình tất cả những thứ này, khoác lấy thể tâm linh để vượt lên trên chúng
thì lần đầu tiên y trải nghiệm được sự thật tính riêng rẽ chỉ thuộc về ba cõi
thấp thôi; y hiệp nhất với mọi người khác nhưng lại không mất đi ngã thức của
mình, tâm thức của y có thể mở rộng ra bao trùm tâm thức của những người khác,
và quả thật là nhập một với những tâm thức khác. Đó là sự đơn nhất mà chơn nhơn
luôn luôn khao khát, sự đơn nhất mà chơn nhơn cảm thấy là sự thật nhưng đã hoài
công cố gắng thực chứng nơi các cõi thấp; trên cõi này sự đơn nhất đó được thực
chứng vượt ngoài những giấc mơ cao siêu nhất của y và toàn thể nhân loại đều tỏ
ra hiệp nhất với Tự ngã thâm sâu nhất của y.
Các thể tạm bợ
Trong khi điểm lại các
hạ thể của con người, chúng ta không thể bỏ qua một vài hiện thể khác vốn chỉ tạm
bợ thôi và xét theo tính chất thì có thể được gọi là nhân tạo. Khi người ta bắt
đầu thoát ra khỏi được thể xác thì y có thể sử dụng thể vía, nhưng chừng nào y
còn hoạt động trong thể vía thì y còn bị hạn chế vào cõi trung giới. Tuy nhiên
y có thể sử dụng thể Hạ trí để nhập vào cõi trí tuệ, khi ở trong thể này y có
thể lướt qua các cõi trung giới và hồng trần mà không bị chướng ngại. Cái thể
được sử dụng như vậy thường được gọi là Māyāvi Rūpa, tức ảo thân, có thể nói đó
là thể hạ trí được sắp xếp lại để hoạt động riêng rẽ. Con người uốn nắn thể trí
thành ra giống như mình, theo hình ảnh của mình để rồi khi ở trong cái thể nhân
tạo tạm bợ này, y tha hồ vân du trong ba cõi, vượt cao hơn những giới hạn thông
thường của con người. Trong sách vở Thông Thiên Học thường nói tới thể nhân tạo
này, khi ở trong đó người ta có thể du hành từ xứ này sang xứ kia, cũng như nhập
vào cõi trí tuệ để học ở đó những sự thật mới, thu lượm kinh nghiệm mới và mang
những kho tàng thu gom ở đó về cho ý thức tỉnh táo. Việc dùng cái thể cao siêu
này có lợi điểm ở chỗ nó không phải chịu sự hão huyền, bị lừa gạt ở cõi trung
giới giống như đối với thể vía. Các giác quan của thể vía không điêu luyện thường
gây hiểu lầm và cần có nhiều kinh nghiệm thì mới có thể tin cậy được những tường
trình của giác quan thể vía, nhưng cái thể trí được tạo ra tạm bợ này thì không
phải chịu những điều lầm lạc như thế; nó thấy là thấy đúng, nó nghe là nghe
đúng; không một hão huyền nào của cõi trung giới có thể chế ngự được nó, không
một ảo giác nào của cõi trung giới có thể lừa gạt được nó. Vì thế những người
nào đã lão luyện trong việc vân du như thế đều thích dùng thể này, khi cần thì
tạo ra nó rồi đến khi đã phục vụ xong mục đích thì lại rũ bỏ nó. Bằng cách đó học
viên thường học được những bài học mà bằng không y chẳng hề đạt được và nhận được
các giáo huấn mà bằng không y hoàn toàn bị bít lối.
Các thể tạm bợ khác
cũng được gọi là Māyāvi Rūpa, nhưng tốt hơn dường như ta nên hạn chế thuật ngữ
này dùng để chỉ thể tạm bợ vừa nêu. Một người có thể xuất hiện ở cách xa thể
xác, đó thật ra chỉ là một hình tư tưởng hơn là một hiện thể của tâm thức, đó
là tư tưởng khoác lấy chất tinh hoa ngũ hành của cõi trung giới. Theo thông lệ
thì các thể này chỉ là những hiện thể của một tư tưởng đặc thù nào đó, một ý
chí đặc biệt nào đó, ngoài ra nó không biểu lộ ý thức gì cả. Ta chỉ cần nhắc sơ
qua chúng là đủ.
Hào quang của con người
Bây giờ ta mới ở vào vị
trí hiểu được hào quang của con người thực sự là gì theo nghĩa trọn vẹn nhất.
Chính Chơn nhơn biểu lộ cùng một lúc trên cả bốn cõi của tâm thức và khả năng
hoạt động trong mỗi cõi đó đều tùy theo sự phát triển của Chơn nhơn; đó là khối
tập hợp các hạ thể của Chơn nhơn, là các hiện thể tâm thức của Chơn nhơn; nói
tóm lại là khía cạnh hình tướng của Chơn nhơn. Chúng ta nên coi hào quang là
như thế chứ không chỉ là cái vành hoặc đám mây bao xung quanh y. Rực rỡ nhất
trong tất cả là thể tâm linh mà chỉ có các Điểm đạo đồ mới thấy được, lửa sống
động của ātma hoạt động thông qua đó; đây là biểu lộ của Chơn nhơn trên cõi Bồ
đề. Rồi tới thể nguyên nhân, biểu lộ của Chơn nhơn trên cõi Thượng trí, tức các
cõi vô sắc giới thuộc cõi trí tuệ, Chơn ngã đóng đô ở đây. Kế đến là thể trí
thuộc về cõi hạ trí, rồi lần lượt tới thể vía, thể phách và xác phàm, mỗi thể
được tạo thành bằng vật chất thuộc cõi của riêng mình và biểu hiện chơn nhơn
khi chơn nhơn ở trong mỗi hạ thể đó. Khi học viên quan sát một người thì y
trông thấy tất cả các thể này hợp lại thành chơn nhơn, bộc lộ riêng rẽ qua các
cấp vật chất khác nhau và đánh dấu trình độ phát triển mà con người đã đạt tới.
Khi phát triển được tầm nhìn cao siêu thì học viên thấy mỗi một thể này đều hoạt
động náo nhiệt. Y nhìn thấy thể xác là một loại kết tinh trọng trược ở trung
tâm của các thể kia, những thể kia thấm nhuần thể xác và ló ra ngoài chu vi thể
xác, thể xác chiếm phần không gian nhò nhất. Kế tới là thể vía biểu thị tình trạng
bản chất dục vọng vốn tạo thành một bộ phận lớn lao của người bình thường đến nỗi
nó chứa đầy đam mê, xúc động và khao khát thấp hèn của con người; nó có màu sắc
và sự tinh vi khác nhau tùy theo con người thuộc loại thanh bai hoặc thô kệch:
rất trọng trược nơi những người lỗ mãng, tinh vi hơn nơi những kẻ thanh lịch
hơn và tinh vi nhất nếu người đó tiến hóa cao. Rồi tới thể hạ trí vốn phát triển
kém nơi đại đa số mọi người nhưng cũng đẹp mắt nơi nhiều người, có màu sắc biến
thiên rất nhiều tùy theo loại hình tâm trí và đạo đức. Rồi tới thể nguyên nhân
(Thượng trí) mà người ta khó nhìn thấy nhất nơi hầu hết mọi người, chỉ nhìn thấy
được nếu khảo sát tỉ mỉ con người vì nó còn phát triển rất kém, còn tương đối mảnh
mai, màu sắc thô thiển, hoạt động bạc nhược. Nhưng khi ta quan sát một người tiến
hóa cao thì chính thể này đập ngay vào mắt ta, là sự trình hiện nổi bật nhất của
con người; nó có ánh sáng rực rỡ, màu sắc huy hoàng và thanh bai với những sắc
thái khôn tả vì trong quang phổ trên trần thế không có; cái sắc thái này chẳng
những tinh anh và đẹp đẽ nhất mà còn khác hẳn màu sắc ta biết trên cõi thấp, là
những màu bổ sung cho thấy con người ở các cõi cao đã phát triển được những phẩm
chất và quyền năng cao siêu hơn tồn tại trên đó. Nếu ta có diễm phúc được tận mắt
nhìn vào hào quang của một trong các Đấng Cao Cả thì Ngài xuất hiện dưới một dạng
sống động dũng mãnh, với sức sống và màu sắc chói lọi, rực rỡ biểu lộ bản chất
của Ngài qua dáng vẻ bên ngoài: đẹp khôn tả và huy hoàng không thể tưởng tượng
nổi. Thế nhưng Ngài hiện nay ra sao thì tất cả mọi người sẽ trở thành như
vậy trong một ngày nào đó ở tương lai, những gì mà hiện nay Ngài thành tựu được
thì mọi con người đều có khả năng thành tựu được trong tương lai.
Có một điều về hào
quang mà tôi xin nhắc tới, coi đó là một điều thực tiễn có lợi. Chúng ta trong
một chừng mực khá lớn có thể bảo vệ mình chống lại sự xâm nhập của các tư tưởng
từ bên ngoài bằng cách tạo ra một bức vách hình cầu bằng chất liệu hào quang
bao xung quanh mình. Hào quang rất dễ dàng đáp ứng với xung lực của tư tưởng và
nếu khi cố gắng tưởng tượng chúng ta hình dung bờ mép ngoài của nó bị đóng cứng
thành ra một lớp vỏ thì chúng ta đã thực sự tạo ra một bức vách bảo vệ xung
quanh mình. Lớp vỏ này sẽ ngăn cản không cho các tư tưởng dật dờ xâm nhập vào;
những tư tưởng đó vốn đầy dẫy trong bầu không khí của cõi trung giới, nhờ vậy
ta ngăn ngừa được tác dụng gây nhiễu của những tư tưởng đó đối với cái trí chưa
điêu luyện. Đôi khi chúng ta cảm thấy mình bị rút sinh lực, nhất là khi chúng
ta tiếp xúc với những người vô hình trung giống như ma cà rồng hút sinh lực của
người lân cận, thì ta cũng có thể tự vệ bằng cách tạo ra một lớp vỏ; bất cứ người
nào nhạy cảm và thấy mình bị kiệt sức như thế do bị hút sinh lực thì nên khôn
ngoan tự vệ như vậy. Chính quyền năng của tư tưởng con người đối với vật chất
tinh vi khiến cho việc nghĩ tới mình ở trong một lớp vỏ như thế thì cũng khiến
nó tạo ra xung quanh bạn.
Khi nhìn vào những người
xung quanh ta ở mọi phía, chúng ta thấy họ ở đủ mọi trình độ phát triển, bộc lộ
qua các hạ thể tùy theo trình độ tiến hóa mà họ đạt được, sống trên hết cõi này
tới cõi khác của vũ trụ, hoạt động nơi cõi này rồi tới cõi khác trong khi đang
phát triển những hiện thể tương ứng của tâm thức. Hào quang của chúng ta sẽ
trình hiện thực chất của chúng ta, chúng ta góp thêm vào nó khi chúng ta tăng
trưởng với sinh hoạt chân chính, chúng ta tẩy trược nó khi chúng ta sống một cuộc
đời cao thượng và trong sạch; chúng ta dệt vào đó những phẩm chất càng ngày
càng cao siêu hơn.
Liệu có thể có bất cứ
triết lý sống nào đầy hi vọng, đầy sức mạnh và đầy hoan lạc hơn triết lý sống
này chăng? Khi chỉ quan sát thế giới loài người bằng mắt phàm không thôi thì
chúng ta thấy nó bị suy thoái, khốn khổ, xét theo biểu kiến là vô vọng; nhìn bằng
mắt phàm thì đúng là như thế. Nhưng cũng cái thế giới loài người ấy xuất hiện
trước mắt chúng ta với một khía cạnh khác hẳn khi chúng ta quan sát bằng tầm
nhìn cao siêu hơn. Thật ra thì chúng ta vẫn thấy sự phiền não và khốn khổ,
chúng ta vẫn thấy sự suy thoái của sắc tướng nhưng chúng ta biết rằng chúng chỉ
phù du tạm bợ thôi, chúng thuộc về giai đoạn ấu trĩ của loài người và thế nào
thì loài người cũng vượt qua được chúng. Khi quan sát những người thấp hèn nhất,
những kẻ thoái hóa và tàn bạo nhất, chúng ta vẫn còn có thể thấy được những khả
năng thiêng liêng của họ, chúng ta vẫn còn nhận ra được mức mà họ sẽ đạt được
trong những năm tháng sắp tới. Đó là thông điệp đầy hi vọng mà Thông Thiên Học
mang lại cho thê giới phương Tây. Thông điệp cứu chuộc toàn cầu thoát khỏi sự
vô minh, do đó giải thoát toàn cầu khỏi sự khốn khổ; không phải trong giấc mơ
mà trong hiện thực, không phải trong niềm hi vọng mà là trong xác tín. Mọi người
mà cụôc đời mình đều bộc lộ sự tăng trưởng, thì có thể nói, đó là một sự thực
chứng mới mẻ và sự thực thi thông điệp ấy; bất cứ nơi đâu mà những trái ngọt đầu
tiên đang xuất hiện thì nơi đó trọn cả thế giới sẽ một ngày kia chín muồi với vụ
gặt bội thu, và sẽ thành tựu được mục đích mà Thượng Đế đã khai sinh ra nó.
CHƠN NHƠN
Bây giờ chúng ta chuyển
sang xét tới chính Chơn nhơn chứ không còn nghiên cứu các hiện thể tâm thức mà
nghiên cứu tác động của tâm thức lên những hiện thể đó, không còn quan sát các
hạ thể mà quan sát chính thực thể hoạt động trong đó. Khi dùng từ “Chơn nhơn”
tôi ngụ ý cái cá thể liên tục chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, nhập vào các hạ
thể rồi lại bỏ rơi chúng, cứ lập đi lập lại như thế mãi, dần dần phát triển qua
các thời đại, tăng trưởng bằng cách thu lượm và đồng hóa kinh nghiệm, tồn tại
trên cõi thượng trí mà ta có đề cập tới trong chương vừa qua. Chơn nhơn là đối
tượng chúng ta nghiên cứu và nó phải hoạt động trên ba cõi mà giờ đây chúng ta
đã quen thuộc, tức là cõi trần, cõi trung giới và cõi trí tuệ.
Con người bắt đầu kinh
nghiệm bằng cách phát triển ngã thức trên cõi hồng trần; chính ở đây có xuất hiện
cái mà chúng ta gọi là “ý thức tỉnh táo”, ý thức mà chúng ta đều quen thuộc, nó
hoạt động thông qua bộ óc và thần kinh hệ; nhờ có nó chúng ta mới lý luận theo
kiểu thông thường, mới tiến hành mọi quá trình lý luận, nhờ có nó chúng ta mới
nhớ được những diễn biến trong kiếp hiện hành và vận dụng được óc phán đoán
trong các sự việc của kiếp sống. Mọi thứ mà chúng ta công nhận là năng lực trí
tuệ của mình vốn là thành quả lao động của con người trải qua các giai đoạn trước
kia trong cuộc hành hương, và ngã thức của y ở đây trở nên càng ngày càng sống
động, càng chủ động, càng linh hoạt, và chúng ta có thể nói rằng điều đó tùy
theo sự phát triển và tiến bộ của cá thể hết kiếp này sang kiếp khác.
Nếu chúng ta nghiên cứu
một người rất chậm phát triển thì chúng ta thấy hoạt động tâm trí có ngã thức của
y rất tồi tàn về chất lượng và hạn chế về số lượng. Y hoạt động thông qua thể
xác nhất là qua các bộ óc của xác phàm và bộ óc của thể phách; tác động này
liên tục tiếp diễn xét về trọn cả hệ thần kinh hữu hình cũng như vô hình, nhưng
tác động thuộc một loại rất vụng về. Trong đó có rất ít sự phân biện, rất ít sự
tế nhị do có thêm hơi hám của cái trí. Có một hoạt động tâm trí nào đó nhưng nó
thuộc loại rất trẻ con hoặc ấu trĩ. Nó chỉ quan tâm tới những chuyện rất lặt vặt;
nó thích thú với những diễn biến rất tầm phào; những sự việc thu hút sự chú tâm
của nó toàn là những chuyện tủn mủn; nó chỉ để ý tới những sự vật thoáng qua;
nó thích ngồi dựa cửa sổ nhìn ra ngoài đường phố náo nhiệt, ngắm người và xe cộ
lượn qua, nhận xét về những điều đó, rất lấy làm thích thú nếu có một người ăn
mặc đẹp đẽ mà lại sẩy chân ngã vào vũng nước hoặc bị một xe hơi đi ngang qua
vũng nước tạt nước vào tung tóe. Nó chẳng chất chứa được bao nhiêu trong bản
thân để phải bận tâm chú ý, do đó nó luôn luôn túa ra bên ngoài để cảm thấy rằng
mình đang sống động; đó là một trong những đặc trưng chủ yếu của trình độ tiến
hóa thấp về tâm trí này khi chơn nhơn hoạt động qua các thể xác và thể phách; sắp
xếp chúng cho có thứ tự để trở thành các hiện thể tâm thức, luôn luôn mưu tìm cảm
giác mạnh. Y cần chắc mẫm rằng mình đang cảm xúc và học cách phân biệt các sự vật
qua việc tiếp nhận từ chúng những cảm giác mạnh và sống động; đó là một giai đoạn
tiến bộ rất cần thiết mặc dù chỉ sơ cấp thôi. Và nếu không có điều đó thì y ắt
liên tục bị rối trí, lẫn lộn giữa những quá trình diễn ra bên trong cơ thể mình
và bên ngoài cơ thể; y phải học bộ chữ cái về bản ngã và phi ngã bằng cách phân
biệt giữa những sự vật gây ra tác động và những cảm giác mà tác động gây ra,
phân biệt giữa kích thước và cảm xúc. Ta có thể thấy loại người thấp nhất thuộc
giai đoạn này tụ tập ở các góc đường phố, vô công rỗi nghề, ngã ngớn vào một
vách tường đôi khi sa đà vào vài câu nhận xét phọt ra rồi bò lăn cười, lảm nhảm
với những câu rỗng tuếch. Bất cứ người nào có thể nhìn vào bộ óc họ đều thấy rằng
họ đang tiếp nhận những ấn tượng khá mơ hồ xuất phát từ các sự vật thoáng qua
và mối liên hệ giữa những ấn tượng này với những ấn tượng khác giống như chúng
thật là rất mỏng manh. Những ấn tượng đó giống như một đống sỏi hơn là một bức
khảm được sắp xếp tỉ mỉ.
Khi nghiên cứu cách thức
mà bộ óc phàm và óc thể phách trở thành các hiện thể của tâm thức, chúng ta phải
trở lại với sự phát triển sơ khai của Ahamkāra, tức ngã thức, ta có thể thấy
giai đoạn đó nơi những con thú hạ đẳng xung quanh ta. Những rung động do tác động
của ngoại vật được xác lập trong bộ óc rồi nó được truyền sang cho thể vía, được
tâm thức cảm thấy trong thể vía thành ra các cảm giác trước khi có bất kỳ mối
liên hệ nào giữa những cảm giác này với các sự vật gây ra cảm giác, mối liên kết
này vốn là một tác động nhất định của cái trí, đó là nhận thức. Khi nhận thức bắt
đầu thì tâm thức đang sử dụng bộ óc phàm và óc thể phách làm hiện thể cho mình;
nhờ đó nó thu thập được kiến thức từ thế giới bên ngoài. Dĩ nhiên giai đoạn này
là quá khứ xa xăm đối với nhân loại, nhưng ta có thể thấy nó được lập lại một
cách thoáng qua khi tâm thức tiếp quản một bộ óc mới lúc tái sinh luân hồi; đứa
trẻ bắt đầu “để ý” (các cô điều dưỡng nói như thế) nghĩa là nó liên kết một cảm
giác xuất hiện nơi bản thân nó với một ấn tượng được tạo ra lên trên cái vỏ tức
hiện thể mới mẻ của nó do sự vật từ bên ngoài; nhờ đó nó mới “để ý” tới sự vật ấy
và nhận thức được sự vật.
Chỉ sau một thời gian
thì không cần nhận thức được sự vật mà hình ảnh của sự vật đó vẫn có thể hiện
diện trong tâm thức; tâm thức thấy mình có thể nhớ lại hình dáng của sự vật khi
nó không tiếp xúc với sự vật qua bất kỳ giác quan nào; một nhận thức được nhớ lại
như thế chính là một ý tưởng, một khái niệm, một hình tư tưởng và những thứ này
tạo thành kho chứa mà tâm thức thu lượm được từ ngoại giới. Nó bắt đầu tác động
lên những thứ này và giai đoạn đầu tiên của hoạt động đó chính là việc sắp xếp
các ý tưởng để chuẩn bị cho việc “lý luận” dựa vào ý tưởng. Lý luận bắt đầu bằng
cách so sánh các ý tưởng với nhau, thế rồi suy diễn ra các mối quan hệ giữa
chúng do việc hai hay nhiều ý tưởng cứ xảy ra cùng một lúc hoặc nối tiếp lẫn
nhau hết dịp này rồi lại tới dịp khác. Trong quá trình này tâm thức rút lui vào
trong bản thân, mang theo mình những ý tưởng đã được tạo ra từ nhận thức. Nó tiếp
tục và phóng chiếu lên các ý tưởng ấy một điều nào đó của riêng mình, khi nó
suy diễn ra một chuỗi trình tự, liên hệ sự vật này với sự vật khác trong mối
quan hệ nhân quả. Nó bắt đầu rút ra những kết luận thậm chí còn tiên liệu những
diễn biến tương lai, khi nó đã xác lập được một chuỗi trình tự sao cho lúc một
nhận thức được coi là “nguyên nhân” xuất hiện thì người ta trông mong rằng nhận
thức được coi là “hậu quả” cũng sẽ nối tiếp. Lại nữa, khi so sánh các ý tưởng,
nó nhận thấy rằng nhiều ý tưởng có ít nhất là một yếu tố chung trong khi những
yếu tố còn lại khác nhau; và nó tiến hành rút ra những đặc trưng chung đó từ phần
còn lại, sắp xếp chúng lại thành ra đặc trưng của một lớp, thế rồi xếp nhóm các
sự vật có chung những đặc trưng này, khi nó thấy một sự vật mới cũng có đặc
trưng đó thì nó bèn nhét sự vật mới ấy vào lớp đó; bằng cách này nó dần dần sắp
xếp mớ hỗn độn nhận thức đó lại thành ra một khối hài hòa, nó bắt đầu đời sinh
hoạt trí tuệ của mình từ đó, suy ra định luật từ sự nối tiếp có thứ tự của các
hiện tượng cùng với các loại hình mà nó tìm thấy trong thiên nhiên. Mọi điều
này đều là công trình của tâm thức ở bên trong và xuyên qua óc phàm, nhưng ngay
cả trong công trình đó chúng ta cũng truy nguyên được sự hiện diện của cái mà bộ
óc không cung cấp. Bộ óc chỉ tiếp nhận các rung động; tâm thức hoạt động trong
thể vía biến những rung động này thành cảm giác, và tâm thức hoạt động trong thể
trí lại biến các cảm giác thành ra nhận thức; thế rồi nó tiến hành mọi quá
trình mà ta vừa bảo rằng biến được khối hỗn mang thành khối hài hòa. Tâm thức
khi hoạt động như thế lại còn được sự soi sáng thêm nữa từ bên trên nhờ vào những
ý tưởng không được chế biến ra từ các vật liệu mà cõi trần cung cấp, song được
phản ánh vào tâm trí trực tiếp từ Trí tuệ Vũ trụ. “Định luật lớn về tư tưởng”
này điều hành mọi sự suy tư vì chính hành vi suy tư đã tiết lộ sự tồn tại trước
đó của các ý tưởng, suy tư được là do có ý thức, chịu ảnh hưởng của ý tưởng và
không thể suy tư nếu không có ý tưởng.
Hầu như là ta không cần
phải nhận xét rằng mọi nỗ lực sơ khai của tâm thức nhằm hoạt động trong thể xác
đều phải chịu nhiều sai lầm, cả do nhận thức bất toàn lẫn do suy diễn lầm lạc.
Những sự suy diễn hấp tấp, những sự vơ đũa cả nắm do kinh nghiệm hạn chế đều
làm phương hại cho nhiều kết luận mà ta đạt tới, và người ta phải chế định ra
các qui tắc lý luận để khép năng lực suy tư vào vòng kỷ cương và khiến cho nó
có thể tránh được những sai lầm mà nó thường xuyên vấp phải khi chưa điêu luyện.
Song le nỗ lực lý luận cho dù có bất toàn đến đâu đi chăng nữa, khi suy diễn từ
việc này sang việc khác cũng là một điểm nổi bật của sự tăng trưởng nơi chơn nhơn
vì nó chứng tỏ rằng chơn nhơn đang thêm một điều gì đó của riêng mình vào mớ
thông tin mà ngoại giới đóng góp. Tác động lên các vật liệu thu gom được này lại
có hiệu quả đối với chính thể xác. Khi cái trí nối liền hai nhận thức lại với
nhau thì nó cũng lập nên (do nó gây ra những rung động tương ứng trong bộ óc) một
mối liên hệ giữa các tập hợp rung động gây ra nhận thức ấy. Đó là vì khi thể
trí bước vào hoạt động thì nó tác động lên thể vía; đến lượt thể vía lại tác động
lên thể phách và xác phàm để rồi vật chất thần kinh hệ của xác phàm rung động
theo những xung lực được phóng qua nó; tác động này biểu hiện thành sự phóng điện
và các dòng từ điện tác dụng giữa các phân tử và nhóm phân tử gây ra những mối
tương quan rối rắm. Những mối tương quan này để lại cái mà chúng ta có thể gọi
là một lối mòn thần kinh, đây là một lối mòn mà dọc theo nó một dòng từ điện
khác sẽ chạy dễ dàng hơn so với khi nó phải chạy chẳng hạn bắc chéo ngang qua lối
mòn đó; và nếu một nhóm phân tử hữu quan trong rung động đó lại được làm cho hoạt
động khi tâm thức lập lại ý tưởng đã từng gây ấn tượng lên chúng thì sự xáo trộn
được lập nên đó sẽ dễ dàng chạy dọc theo lối mòn đã được tạo lập nên trước kia
với một nhóm khác nhờ vào một mối liên hệ có trước đó, và lại khiến cho nhóm
kia cũng bước vào hoạt động; nó gửi lên cho cái trí một rung động mà sau khi đã
được chế biến theo phương pháp chính qui thì được trình hiện thành ra một ý
liên tưởng. Vì thế cho nên sự liên tưởng rất quan trọng, tác động này của bộ óc
đôi khi rất khó chịu lúc mà một ý tưởng điên rồ hoặc lố bịch nào đó lại được
liên kết với một ý tưởng nghiêm túc hoặc thiêng liêng. Tâm thức được ý tưởng
thiêng liêng khơi dậy nên đang lưu luyến trong đó, đột nhiên không được sự đồng
ý của nó, bộ mặt nhăn nhở cười của ý tưởng đột nhập vào do tác động máy móc của
bộ óc gửi lên, lại nhào vào qua cánh cửa thánh điện làm cho nó ô uế. Những người
khôn ngoan đều quan tâm tới sự liên tưởng và rất cẩn thận khi nói tới những điều
thiêng liêng nhất kẻo một kẻ điên rồ và vô minh nào đó lại tạo ra một mối liên
kết giữa điều linh thiêng này với điều ngớ ngẩn hoặc thô bỉ, một mối liên kết
mà sau đó rất có thể tâm thức cũng thấy bị dội. Huấn điều của bậc đại Đạo sư Do
thái thật là hữu ích: “Con đừng mang điều linh thiêng cho lủ chó, đừng quẳng chuỗi
ngọc trai cho lủ heo”.
Còn một dấu ấn khác về
sự tiến bộ sẽ xuất hiện khi người ta bắt đầu điều chỉnh lại cách cư xử của mình
do những kết luận đạt được từ bên trong thay vì do những sự thôi thúc nhận được
từ bên ngoài. Lúc bấy giờ y tác động theo kho chứa kinh nghiệm tích lũy của
riêng mình vì đã nhớ tới các diễn biến quá khứ, đã so sánh được các kết quả thu
lượm theo nhiều đường lối hành động khác nhau trong quá khứ và dùng những thứ
đó để quyết định đường lối hành động mà mình sẽ chọn dùng trong hiện tại. Y bắt
đầu tiên liệu, tiên đoán, nhận định về tương lai dựa vào quá khứ, lý luận trước
bằng cách nhớ lại những điều đã xảy ra rồi, và khi người ta làm như thế thì
chơn nhơn đang tăng trưởng rõ rệt. Y có thể vẫn còn bị hạn chế phải hoạt động
trong óc phàm, y có thể vẫn còn không hoạt động được bên ngoài óc phàm nhưng y
đang trở thành một tâm thức phát triển bắt đầu ứng xử như một cá thể, chọn lựa
đường lối của riêng mình thay vì bèo dạt mây trôi tùy duyên hoặc bị cưỡng chế
đi theo một đường lối hành động đặc thù nào đó do một áp lực nào đó từ bên
ngoài. Sự tăng trưởng của chơn nhơn biểu lộ một cách dứt khoát như thế khi y
càng ngày càng phát triển cái được gọi là tiến trình và càng ngày càng có thêm
quyền năng ý chí.
Những người ý chí mạnh
và ý chí yếu phân biệt với nhau do khác nhau về phương diện này. Người kém chí
hướng có động cơ thúc đẩy từ bên ngoài do sự hút và đẩy từ bên ngoài, còn người
có ý chí và chí hướng thì có động cơ thúc đẩy từ bên trong, y không ngừng làm
chủ được hoàn cảnh bằng cách tác động lên đó những lực thích hợp được dẫn dắt
do kho kinh nghiệm riêng đã tích lũy được. Kho chứa này mà chơn nhơn đã thu gom
và tích lũy được trong nhiều kiếp, trở nên càng ngày càng sẵn có để dùng khi óc
phàm được trui rèn và tẩy trược nhiều hơn, do đó dễ tiếp thu hơn: kho chứa vốn ở
nơi chơn nhơn, nhưng y chỉ dùng được một phần nào của nó tùy theo mức y có thể
gây ấn tượng được lên ý thức thuộc óc phàm. Bản thân chơn nhơn có ký ức và biết
lý luận; chính chơn nhơn phán đoán, chọn lựa và quyết định: nhưng y phải làm mọi
thứ đó thông qua óc phàm và óc thể phách; y phải làm việc và tác động thông qua
thể xác với cơ cấu thần kinh và cơ thể dĩ thái liên kết với nó. Khi bộ óc trở
nên dễ tiếp nhận ấn tượng hơn, khi y cải tiến được vật liệu của nó và kiểm soát
được nó nhiều hơn thì y có thể sử dụng nó để tự biểu hiện tốt hơn.
Thế thì làm cách nào
chúng ta, những người còn đang sống, cố gắng rèn luyện được các hiện thể tâm thức
của mình để chúng phục vụ như những công cụ tốt hơn? Bây giờ chúng ta không
nghiên cứu sự phát triển thể chất mà nghiên cứu việc rèn luyện nó để tâm thức
có thể sử dụng nó làm một công cụ của tư tưởng. Con người quyết định như thế để
khiến cho hiện thể của mình hữu dụng hơn, y đã quan tâm tới việc cải tiến nó về
mặt thể chất, y phải rèn luyện nó để đáp ứng nhanh chóng và liên tiếp đối với
những xung lực mà y truyền cho nó. Để cho bộ óc có thể đáp ứng liên tiếp thì bản
thân y phải suy nghĩ có mạch lạc, khi y gởi tới cho bộ óc những xung lực có thứ
tự, y mới tập cho nó quen với việc hoạt động có thứ tự qua các nhóm phân tử
liên kết với nhau thay vì chỉ là những rung động ngẫu nhiên chẳng dính dáng gì
với nhau. Chơn nhơn phát khởi còn bộ óc chỉ bắt chước và việc suy nghĩ thiếu mạch
lạc, bừa bãi ắt tạo nên thói quen cho bộ óc lập nên những nhóm phân tử rung động
theo kiểu mạnh thứ nào rung theo kiểu thứ nấy. Việc rèn luyện có hai giai đoạn:
sau khi đã quyết định là mình phải suy nghĩ có mạch lạc thì chơn nhơn rèn luyện
cho thể trí liên kết tư tưởng này với tư tưởng kia chứ không bạ đâu tấp đó theo
kiểu buông tuồng; thế rồi sau khi suy nghĩ như thế y lại rèn luyện bộ óc để cho
nó rung động hưởng ứng với tư tưởng của minh. Bằng cách này các cơ thể vật lý –
hệ thần kinh xác phàm và hệ thống của thể phách – có được thói quen làm việc
theo hệ thống, và khi chủ nhơn ông cần thì chúng đáp ứng nhanh chóng và có thứ
tự; khi chủ nhơn ông cần thì chúng đã sẵn sàng theo lệnh. Giữa một hiện thể tâm
thức điêu luyện như thế và một hiện thể tâm thức không lão luyện có một loại
khác nhau giống như giữa những công cụ của một người thợ chễnh mãng, bỏ cho dụng
cụ dơ dáy và cùn nhụt, không thích hợp để đem sử dụng, với dụng cụ của người đã
biết làm cho nó sẵn sàng, mài sắc nó và lau sạch nó, cho nên khi người ta cần
thì dụng cụ đã sẵn có để sử dụng và người ta có thể tức khắc làm được việc mà
mình đang quan tâm. Như vậy là thể xác phải luôn luôn sẵn sàng đáp ứng với lời
hiệu triệu của cái trí.
Kết quả của việc liên tục
tác động lên thể xác như thế tuyệt nhiên không làm kiệt quệ năng lực cải thiện
của bộ óc. Đó là vì mọi năng lực được gởi xuống cho thể xác đều phải băng ngang
qua thể vía và cũng phải tạo ra một tác dụng lên thể vía. Đó là vì như ta có thấy
so với vật chất của cõi trần thế, vật chất cõi trung giới đáp ứng nhiều hơn với
các rung động của tư tưởng; và tác dụng lên trên thể vía của quá trình hành động
đó xét theo tỉ lệ thì lớn hơn như ta đã từng thấy. Do tác động đó thể vía có được
một đường nét nhất định, một tình trạng có tổ chức tốt như ta đã từng mô tả.
Khi người ta đã học được cách chế ngự bộ óc, khi y đã học được cách định trí,
khi y có thể suy nghĩ tùy ý và tùy lúc tùy nơi thì một sự phát triển tương ứng
cũng xảy ra nơi cái mà y coi là sinh hoạt trong giấc mơ (nếu y có ý thức về nó
trong bộ óc của xác phàm). Những giấc mơ này sẽ trở nên sống động, tự tiếp diễn
được, hợp lý, thậm chí còn mang tính chất giáo huấn nữa. Chơn nhơn bắt đầu hoạt
động trong hiện thể tâm thức thứ nhì của mình tức là thể vía, nó đang nhập vào
cõi tâm thức lớn thứ nhì và đang tác động ở đó bên trong thể vía tách rời khỏi
thể xác. Chúng ta hãy tạm thời xét tới sự khác nhau giữa hai người “đều tỉnh
như sáo sậu”, nghĩa là đang hoạt động trong thể xác, một người chỉ dùng thể vía
của mình một cách vô ý thức làm cầu nối giữa cái trí và bộ óc, còn người kia
dùng cái vía một cách hữu thức để làm một hiện thể. Người thứ nhất nhìn thấy
theo cách thông thường và rất hạn chế, thể vía của y chưa phải là một hiện thể
hữu hiệu của tâm thức; người thứ nhì dùng thần nhãn của thể vía cho nên không
còn bị hạn chế bởi vật chất của cõi trần, y nhìn thấy xuyên qua mọi vật thể
trên cõi trần, y nhìn thấy đằng sau cũng rõ như đằng trước, nhìn thấy những bức
tường và những vật chất “mờ đục” khác cũng trong suốt như nhìn qua kính thủy
tinh; y cũng nhìn thấy các hình thù và màu sắc trên cõi trung giới, nhìn thấy
hào quang các tinh linh ngũ hành v.v. . . Nếu y đi tới một buổi hòa nhạc thì
khi âm nhạc trổi lên, y thấy các bản hòa tấu đó rực rỡ nhiều màu sắc, khi y đi
nghe diễn thuyết, y nhìn thấy màu sắc và hình dáng trong tư tưởng của diễn giả,
do đó lĩnh hội được sự biểu diễn tư tưởng của diễn giả trọn vẹn hơn mức người
khác chỉ có thể nghe những lời được thốt ra. Đó là vì tư tưởng phóng ra dưới dạng
biểu tượng là ngôn từ cũng còn có những hình tướng đầy màu sắc và đầy âm nhạc,
và khi nó khoác lấy vật chất cõi trung giới thì nó gây ấn tượng lên thể vía.
Khi tâm thức đã tỉnh táo trọn vẹn trong thể vía thì nó tiếp nhận và ghi nhận được
hết thảy những ấn tượng bổ sung này và nếu người ta khảo sát mình kỹ lưỡng thì
nhiều người ắt thấy rằng mình tiếp thu được từ diễn giả nhiều hơn mức mà ngôn từ
truyền đạt được cho dẫu họ không có ý thức về nó vào lúc mà họ đang lắng nghe.
Nhiều người ắt thấy rằng trong trí nhớ mình có nhiều hơn mức diễn giả thốt ra;
đôi khi một sự ám thị tử tế tiếp nối một tư tưởng dường như thể có một điều gì
đó bao quanh những ngôn từ ấy khiến cho chúng mang những ngụ ý nhiều hơn mức
tai thường nghe thấy được. Kinh nghiệm này cho thấy rằng thể vía đang phát triển
và khi người ta quan tâm tới việc suy nghĩ của mình và sử dụng thể vía một cách
vô ý thức thì nó tăng trưởng và trở nên càng ngày càng có tổ chức.
“Sự vô ý thức” của người
ta trong khi ngủ là do thể vía còn chưa phát triển hoặc là do thiếu mối liên hệ
hữu thức giữa thể vía và óc phàm. Người ta sử dụng thể vía trong lúc ý thức tỉnh
táo bằng cách phóng những dòng tư tưởng băng ngang qua thể vía để tới óc phàm;
nhưng khi ta không tích cực sử dụng óc phàm (bộ óc mà thông qua đó con người có
thói quen tiếp nhận ấn tượng từ bên ngoài) thi y cũng giống như David khoác lấy
một áo giáp mà mình chưa thử nghgiệm bao giờ: y chưa bao giờ tiếp nhận những ấn
tượng chỉ đến với mình thông qua thể vía mà thôi, y chưa quen sử dụng nó thành
công cụ độc lập. Hơn nữa, y có thể học cách sử dụng nó một cách độc lập trên
cõi trung giới, thế nhưng y cũng chẳng biết rằng mình đã từng sử dụng được nó
khi y trở về với xác phàm – đây lại là một giai đoạn khác trong quá trình tiến
bô chậm chạp của con người – thế là y bắt đầu sử dụng nó trong cõi riêng của nó
trước khi y có thể tạo nên được mối liên kết giữa cõi đó với cõi bên dưới nó.
Cuối cùng mới tạo ra được những mối liên kết này để rồi y chuyển sang việc sử dụng
hết hiện thể này tới hiện thể khác với trọn vẹn ý thức và được tự do trên cõi
trung giới. Y đã dứt khoát mở rộng được phạm vi ý thức tỉnh táo của mình để bao
trùm được cõi trung giới, và trong khi còn ở nơi xác phàm thì y vẫn hoàn toàn sử
dụng được các giác quan của thể vía, có thể nói là y đang sống cùng một lúc nơi
hai cõi không có sự gián đoạn nào, không có vực sâu ngăn cách nào giữa chúng,
và y sống trên cõi trần giống như một người mù bẩm sinh bây giờ lại được sáng mắt
ra.
Trong giai đoạn tiến
hóa kế tiếp, chơn nhơn bắt đầu hoạt động hữu thức trên cõi thứ ba tức cõi trí
tuệ; đã từ lâu rồi y vẫn hoạt động trên cõi này, từ đó phóng xuống mọi tư tưởng
khoác lấy hình tướng hoạt động nơi cõi trung giới và biểu hiện trên cõi trần
thông qua bộ óc. Khi y trở nên hữu thức trong thể trí thì y ắt phát hiện ra rằng
mình suy nghĩ tức là mình đang tạo ra các hình tướng, y trở nên có ý thức về
hành vi sáng tạo mặc dù y đã vận dụng quyền năng này một cách vô ý thức từ lâu
lắm rồi. Bạn đọc có thể nhớ lại rằng nơi một trong những bức thư được trích dẫn
trong quyển Thế Giới Huyền Bí, một Chơn sư có dạy rằng mọi người đều đang tạo
ra những hình tư tưởng, nhưng Ngài phân biệt giữa kẻ phàm phu và bậc Cao đồ, vì
kẻ phàm phu tạo ra hình tư tưởng một cách vô ý thức, còn bậc Cao đồ tạo ra hình
tư tưởng một cách hữu thức. (Thuật ngữ Cao đồ được dùng ở đây với một ý nghĩa rất
phóng khoáng để bao gồm các Điểm đạo đồ thuộc nhiều cấp khác nhau ở mức thấp
hơn hẳn so với một “Chơn sư”). Ở giai đoạn phát triển này của con người, quyền
năng hữu dụng của Chơn nhơn gia tăng rất nhiều bởi vì khi y có thể sáng tạo một
cách hữu thức và điều khiển được một hình tư tưởng – người ta thường gọi nó là
tinh linh nhân tạo – thì y có thể sử dụng nó để làm việc ở những nơi mà nhất thời
y không tiện vân du tới đó trong thể trí của mình. Vậy là y có thể làm việc từ
xa cũng như làm việc ngay tại chỗ và gia tăng được tầm hữu dụng của mình; y kiểm
soát được những hình tư tưởng đó từ xa, theo dõi và hướng dẫn chúng khi chúng
làm việc; biến chúng thành tác nhân của ý chí mình. Khi thể trí phát triển thì
Chơn nhơn sống và hoạt động trong đó một cách hữu thức, khi y sinh hoạt trên
cõi trí tuệ thì y biết được mọi sinh hoạt rộng lớn hơn so với khi y còn ở trong
thể xác, y vẫn hữu thức được thông qua thể xác đó mà biết được môi trường xung
quanh; thế nhưng y vẫn tỉnh như sáo sậu và hoạt động được nơi cõi cao chứ không
cần phải để cho thể xác đi ngủ thì mới vui hưởng được những năng lực cao cấp. Y
đã quen sử dụng được giác quan của thể trí, dùng nó để tiếp nhận đủ thứ ấn tượng
từ cõi trí tuệ sao cho y có thể cảm nhận được mọi hoạt động trí tuệ của người
khác cũng giống như y cảm nhận được các chuyển động của cơ thể người khác.
Khi con người đã đạt tới
giai đoạn phát triển này – một trình độ tương đối cao so với người thường, mặc
dù còn thấp khi so với trình độ vốn là hoài bão của y – thì bấy giờ y hoạt động
hữu thức trong hiện thể thứ ba tức thể trí, truy nguyên được tất cả những gì mà
y làm trong đó, trải nghiệm những quyền năng và hạn chế của nó. Tất nhiên phải
học cách phân biệt giữa hiện thể này mà mình dùng và chính bản thân mình; lúc bấy
giờ y mới cảm thấy tính cách hão huyền của phàm ngã tức là “cái Tôi” của thể
trí chứ không phải chơn nhơn, và y đồng nhất hóa mình một cách hữu thức với
Chơn ngã vốn ngự nơi thể cao siêu tức thể nguyên nhân ở trên cõi Thượng trí, tức
vô sắc giới. Y thấy chơn nhơn có thể rút ra khỏi thể trí, có thể bỏ nó lại đằng
sau và khi thăng lên cao hơn vẫn còn là chính mình, lúc bấy giờ y biết rằng nhiều
kiếp thật ra chẳng qua chỉ là một kiếp duy nhất và chơn nhơn sống động vẫn là
chính mình trải qua mọi kiếp đó.
Bây giờ ta xét tới những
mối liên kết giữa các thể khác nhau này. Thoạt tiên chúng tồn tại mà con người
không có ý thức về chúng. Chúng vẫn có đó bằng không thì y chẳng thể chuyển từ
cõi trí sang cõi của thể xác, nhưng y không có ý thức về sự tồn tại của chúng,
và chúng không được làm cho linh hoạt chủ động, chúng hầu như giống cái mà ta gọi
là các cơ quan sơ khai trong thể xác. Mọi người nghiên cứu sinh học đều biết rằng
có hai loại cơ quan sơ khai: một loại cung ứng những dấu vết của các giai đoạn
mà cơ thể đã trải qua trong quá trình tiến hóa, còn một loại chỉ dấu bóng gió về
những đường lối phát triển tương lai. Các cơ quan này tồn tại nhưng không hoạt
động, chúng đã hoạt động ở thể xác trong quá khứ hoặc sẽ hoạt động trong tương
lai, khi y đã chết rồi hoặc khi y chưa sinh ra. Những mối liên kết mà tôi dám
dùng phép tương tự để gọi là các cơ quan sơ khai loại hai, liên kết thể phách
và xác phàm với thể vía, thể vía với thể trí, thể trí với thể nguyên nhân.
Chúng tồn tại nhưng chúng phải được khơi hoạt nghĩa là chúng phải được phát triển,
và cũng giống như các loại hình thuộc thể xác, chúng chỉ có thể được phát triển
bằng cách sử dụng. Dòng sinh khí tuôn chảy qua chúng, dòng tâm trí tuôn chảy
qua chúng, thế là chúng được giữ cho linh hoạt và được cấp dưỡng; nhưng chúng
chỉ dần dần được khơi hoạt khi con người chú tâm vào chúng và dùng ý chí để tác
động lên sự phát triển của chúng. Tác động của ý chí bắt đầu làm linh hoạt những
mối liên kết sơ khai này và chúng bắt đầu hoạt động từng bước một, có lẽ là rất
chậm chạp; con người bắt đầu sử dụng chúng để chuyển di tâm thức từ hiện thể
này sang hiện thể khác.
Trong thể xác có các
trung khu thần kinh tức là các nhóm nhỏ tế bào thần kinh, các tác động từ bên
ngoài cũng như các lực thôi thúc từ bộ óc đều phải được chuyển di qua các trung
khu này. Nếu một trong các trung khu bị trục trặc thì sự xáo trộn sẽ xuất hiện
tức khắc và ý thức trên cõi trần sẽ bị rối loạn. Trong thể vía cũng có những
trung tâm tương tự, nhưng nơi người kém phát triển thì chúng chỉ là sơ khai và
không hoạt động. Đây là những mối liên kết giữa thể xác với thể vía, giữa thể
vía với thể trí, và khi quá trình tiến hóa tiếp diễn thì chúng được ý chí làm
cho linh hoạt, giải thoát và hướng dẫn “hỏa xà” mà sách vở Ấn Độ gọi là
Kundalini. Giai đoạn chuẩn bị để tác động trực tiếp giải phóng được Kundalini
chính là việc rèn luyện và tẩy trược các hiện thể vì nếu ta không hoàn thành rốt
ráo được việc này thì lửa sẽ là năng lượng hủy diệt thay vì là năng lượng khơi
hoạt. Chính vì thế mà chúng tôi nhấn mạnh rất nhiều tới sự tẩy trược và khăng
khăng đòi hỏi đó phải là việc cần thiết sơ bộ cho mọi khoa Yoga chân chính.
Khi người ta đã hiến
mình thích hợp để an toàn tiếp nhận sự trợ giúp làm linh hoạt những mối liên kết
này thì sự trợ giúp đó sẽ đương nhiên đến với y do có những người luôn luôn tìm
cơ hội để trợ giúp kẻ tầm đạo tha thiết và không ích kỷ. Lúc bấy giờ sẽ có một
ngày mà con người thấy mình thoát ra khỏi thể xác trong khi y vẫn đang tỉnh táo
và y thấy mình được giải phóng mà không hề gián đoạn tâm thức. Khi điều này xảy
ra được vài lần thì việc chuyển di tâm thức từ hiện thể này sang hiện thể kia
trở nên quen thuộc và dễ dàng. Khi thể vía xuất ra khỏi thể xác trong lúc ngủ
thì có một thời kỳ ngắn ngủi mất ý thức và ngay cả khi con người hoạt động tích
cực trên cõi trung giới thì y vẫn không thể bắc cầu vượt qua sự mất ý thức này
lúc y trở về nhập xác. Nếu khi y xuất ra khỏi xác mà bị mất ý thức thì có lẽ
khi y lại trở về nhập xác y cũng bị mất ý thức. Có thể tâm thức linh hoạt trọn
vẹn trên cõi trung giới, thế nhưng mọi thứ biểu hiện trong bộ óc phàm vẫn có thể
là một sự trống rỗng hoàn toàn. Nhưng khi con người xuất ra khỏi xác trong tình
trạng ý thức tỉnh táo vì đã khơi hoạt được những mối liên kết giữa các hiện thể
thì y đã bắc được cầu vượt qua vực sâu đó; đối với y nó không còn là một vực
sâu nữa và tâm thức của y chuyển nhanh chóng từ cõi này sang cõi khác mà y vẫn
biết mình là con người ấy nơi cả hai cõi.
Óc phàm càng được rèn
luyện để hưởng ứng các rung động của thể trí bao nhiêu thì việc bắc cầu qua vực
thẳm giữa ngày và đêm càng dễ bấy nhiêu. Bộ óc càng ngày càng trở nên là công cụ
ngoan ngoãn của chơn nhơn, thi hành những hoạt động theo sự thôi thúc của ý chí
và giống như một con ngựa đã thuần thục đáp ứng với sự va chạm nhẹ nhất của bàn
tay hoặc đầu gối. Cõi trung giới mở rộng ra đối với người nào đã hiệp nhất được
hai hạ thể tâm thức như thế và nó thuộc về y cùng với mọi khả năng, mọi quyền
năng rộng lớn hơn, mọi cơ hội to lớn hơn để phụng sự và giúp đỡ. Rồi tới niềm
vui mang lại sự giúp đỡ cho những kẻ đau khổ không biết tới tác nhân giúp đỡ mặc
dù vẫn cảm nhận được sự nhẹ bớt gánh nặng do được tuôn đổ nước cam lồ vào những
vết thương lúc bấy giờ dường như chữa trị được; những gánh nặng trên vai được
nhấc lên nhẹ một cách mầu nhiệm trong khi trước đó chúng đè nặng trĩu trên đôi
vai đau điếng.
Ta cần phải bắc cầu nhiều
hơn nữa giữa vực thẳm từ kiếp này sang kiếp khác; chuyển trí nhớ từ ngày sang
đêm và ngược lại mà không bị gián đoạn chỉ có nghĩa là thể vía đang hoạt động
hoàn hảo và những mối liên kết giữa nó với thể xác đang vận hành hết công suất.
Nếu muốn bắc cầu ngang qua vực thẳm giữa kiếp này với kiếp khác thì con người
phải làm nhiều hơn mức chỉ hoạt động với ý thức trọn vẹn trong thể vía, thậm
chí hơn cả mức hoạt động hữu thức trong thể trí; đó là vì thể trí bao gồm vật
liệu của các cõi hạ trí và sự tái sinh luân hồi không diễn ra xuất phát từ đó.
Đến đúng lúc thì thể trí cũng bị tan rã giống như thể vía và thể xác, nó không
thể truyền thừa được cái gì. Trọn cả vấn đề túc mạn thông (nhớ được các kiếp
trước) xoay quanh câu hỏi này: liệu con người có thể hoạt động hay chăng trên
các cõi thượng trí khi ở trong thể nguyên nhân? Chính thể nguyên nhân mới chuyển
từ kiếp này sang kiếp khác, mọi thứ đều được tích chứa trong thể nguyên nhân; mọi
kinh nghiệm đều được tồn tại trong thể nguyên nhân vì tâm thức được triệt thoái
vào đó để rồi tâm thức lại từ đó giáng xuống mỗi khi tái sinh. Ta hãy theo dõi
các giai đoạn sinh hoạt không diễn ra trên cõi trần để xem Diêm vương tức Thần
chết có quyền uy bao trùm đến đâu. Con người thoát ra khỏi bộ phận thô trược của
thể vật lý; nó bị tan rã từng mảnh khi y thoát ra để rồi được trả lại cho cõi hồng
trần. Không điều gì còn lại trong đó mà mối liên kết từ điển về ký ức có thể sẵn
có được. Thế rồi con người trong bộ phận dĩ thái của thể vật lý chỉ được có vài
tiếng đồng hồ rồi lại rũ bỏ nó khiến cho thể phách cũng lại tan rã ra thành các
yếu tố. Vậy thì không một ký ức nào liên quan tới bộ óc thể phách giúp cho y bắc
cầu qua vực thẳm được. Y lại chuyển sang cõi trung giới, ở đó cho tới khi tương
tự y cũng rũ bỏ thể vía, bỏ nó lại đằng sau cũng giống như y đã từng bỏ xác
phàm; đến lượt “cái xác chết của thể vía” bị tan rã, trả lại vật liệu cho cõi
trung giới và làm tiêu tan luôn mọi thứ có thể được dùng làm cơ sở cho những mối
liên kết từ tính cần thiết cho trí nhớ. Y lại tiếp tục chuyển sang thể trí ở
nơi sắc giới thuộc Devachan, sống ở đó hàng trăm năm, tôi luyện các năng khiếu,
vui hưởng thành quả. Nhưng khi thời gian đã chín muồi thì y cũng rút ra khỏi thể
trí, chỉ mang theo từ đó cái gì trường tồn sẽ được kế thừa qua thể xác kế tiếp
tức là tinh hoa của tất cả những gì mà y đã thu gom và đồng hóa được. Y bỏ lại
thể trí đằng sau để cho nó tan rã cũng theo một kiểu giống như các hiện thể thô
hơn vì vật chất của nó (tinh vi xét theo quan điểm của chúng ta) cũng không đủ
tinh vi để được chuyển lên cõi cao thuộc cõi thượng trí. Vật chất đó phải bị rũ
bỏ để trả lại làm thành vật liệu của cõi hạ trí, một lần nữa tổ hợp lại bị giải
tán để rã ra thành các yếu tố. Trên con đường thăng lên, chơn nhơn rũ bỏ hết hạ
thể này tới hạ thể khác, chỉ khi đạt tới vô sắc giới của cõi trí tuệ thì y mới
có thể được công nhận rằng mình đã vượt ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của cây quyền
trượng mà Diêm vương nắm giữ làm tan rã các hạ thể. Cuối cùng y chuyển ra khỏi
phạm vi chi phối của Diêm vương, ngự nơi thể nguyên nhân mà Thần chết không còn
uy quyền nữa, và y tích trữ mọi thứ mà mình thu gom được trong thể nguyên nhân
đó. Vì vậy nó mới được gọi là thể nguyên nhân do bởi mọi nguyên nhân ảnh hưởng
tới các kiếp tương lai đều ở trong đó. Lúc bấy giờ y phải bắt đầu hoạt động với
ý thức trọn vẹn trên vô sắc giới của cõi trí tuệ ở trong thể nguyên nhân trước
khi y có thể bắc cầu nối liền trí nhớ vượt qua vực thẳm ăn cháo lú của sự chết.
Một linh hồn chưa phát triển khi nhập vào cõi cao tột này không thể duy trì được
ý thức ở đó; y nhập vào đó mang theo mọi mầm mống phẩm chất của mình nhưng chỉ
có sự tiếp xúc phớt qua, một tia chớp lóe tâm thức bao trùm cả quá khứ lẫn
tương lai làm cho Chơn ngã lóa cả mắt, thế là bị chìm ngay xuống chu kỳ tái
sinh luân hồi. Y mang theo các mầm mống trong thể nguyên nhân này, bung nó ra
ngoài trên mỗi cõi thuộc về các mầm mống đó để thu hút những vật chất thật
thích hợp với chúng. Vậy là nơi sắc giới thuộc cõi hạ trí, các chủng tử hạ trí
thu hút vật chất thuộc cõi này để tạo thành thể trí mới, vật chất được thu gom
như thế biểu lộ những đặc trưng tâm trí mà chủng tử ở bên trong ban cho nó,
cũng giống như trái sồi phát triển thành ra một cây sồi bằng cách thu gom vào
mình vật liệu thích hợp từ dưới đất và bầu không khí. Trái sồi không thể phát
triển thành một cây phong hoặc một cây bách hương mà chỉ phát triển thành cây sồi
thôi, cũng như chủng tử hạ trí phải phát triển theo bản chất của riêng mình chứ
làm sao khác đi được. Nghiệp báo tác động như thế trong việc kiến tạo các hạ thể,
con người gặt cái mà mình đã gieo hạt giống. Chủng tử từ thể nguyên nhân bung
ra chỉ có thể tăng trưởng theo loại hình của mình, thu hút về mình cấp vật chất
tương ứng, sắp xếp vật chất đó thành hình dạng đặc trưng sao cho nó tạo ra bản
sao của phẩm chất mà con người đã hình thành trong những kiếp trước. Khi y nhập
vào cõi trung giới thì các chủng tử cũng được bung ra vốn thuộc về cõi này,
chúng cũng thu hút xung quanh mình tinh hoa ngũ hành và vật liệu thích hợp thuộc
cõi trung giới. Vì thế mới xuất hiện trở lại những khao khát, xúc động và đam
mê thuộc về thể dục vọng tức thể vía của con người, được tái chế biến lại theo
kiểu này khi y đến cõi trung giới. Vậy thì nếu muốn cho vẫn còn có ý thức về
các kiếp đã qua được truyền thừa qua mọi quá trình này và mọi cõi này thì ý thức
đó bắt buộc phải tồn tại và hoạt động trọn vẹn trên cõi cao của thể nguyên nhân
tức là cõi thượng trí. Thiên hạ không nhớ được các kiếp đã qua của mình vì họ
chưa có ý thức trong thể nguyên nhân đóng vai trò một hiện thể; nó chưa phát
triển được chức năng hoạt động riêng rẽ của mình. Nó vẫn có đó là bản thể của mọi
kiếp đã qua, là “cái Ngã” chân thực mà tất cả đều bắt nguồn từ đó nhưng nó chưa
hoạt động tích cực: nó chưa hữu ngã thức mặc dù vẫn hoạt động một cách vô ý thức;
chừng nào nó còn chưa hữu ngã thức trọn vẹn thì ký ức không thể chuyển di từ
cõi này sang cõi khác và do đó từ kiếp này sang kiếp khác. Khi chơn nhơn tiến bộ
thì các tia chớp lóe tâm thức bật lên soi sáng cho những mảnh vụn của quá khứ,
nhưng những tia chớp lóe này cần phải biến thành ánh sáng thường trực trước khi
có được bất kỳ ký ức liên tục nào.
Người ta có thể thắc mắc
rằng: Liệu có thể khuyến khích những tia chớp lóe như thế lập đi lập lại hay
chăng? Liệu người ta có thể đẩy nhanh hoạt động tăng trưởng từ từ này của tâm
thức trên các cõi cao được hay chăng? Phàm nhơn có thể lao động vất vả cho cứu
cánh này vì nếu y có can đảm và kiên nhẫn; y có thể cố gắng càng ngày càng sống
nơi cái ngã thường trụ, càng ngày càng triệt thoái tư tưởng và năng lượng (xét
về sự chú ý) ra khỏi những chuyện tầm phào và vô thường của đời sống hằng ngày.
Tôi không ngụ ý là người ta phải trở nên mơ mộng, đãng trí và lơ đễnh, trở
thành một thành viên thiếu hiệu lực nhất trong gia đình và xã hội; ngược lại y
phải chu toàn mọi yêu cầu mà thế gian đòi hỏi y và chu toàn được nó hoàn thiện
hơn vì chơn nhơn đang làm điều đó vốn cao cả. Y có thể làm việc một cách vụng về
và bất toàn như những người chậm phát triển vì đối với y bổn phận là bổn phận
và chừng nào mà còn có người nào đó đòi nó một thứ gì đó đối với y thì y phải
trả nợ tới hết mức; y phải làm tròn mọi bổn phận hoàn hảo hết mức với năng lực
tốt nhất và sự chú ý nghiêm chỉnh nhất. Nhưng y không màng tới những sự việc
này, tư tưởng của y không bị ràng buộc vào kết quả làm việc; ngay khi đã hoàn
thành nhiệm vụ thì tư tưởng của y sẽ được giải thoát để bay lên trở lại cuộc sống
thường trụ, vươn lên tới cõi cao với năng lực phấn đấu tiến công và y lại bắt đầu
sống nơi đó để thấy rõ những chuyện lẩm cẩm của cuộc sống thế gian quả thật là
vô giá trị. Khi y kiên định làm như thế và ra sức rèn luyện mình suy tư cao
siêu và trừu tượng thì y sẽ bắt đầu làm linh hoạt được những mối liên kết cao
trong tâm thức và đưa xuống được cuộc sống hạ giới này cái ý thức vốn của riêng
y.
Một con người thì vẫn
là cứ người đó ở trên bất cứ cõi nào mà y đang hoạt động và y sẽ chiến thắng
khi y hoạt động được trên cả năm cõi mà không bị gián đoạn tâm thức. Các đấng
mà chúng ta gọi là Chơn sư, “những Con người toàn bích”, đều hoạt động với ý thức
tỉnh táo chẳng những nơi ba cõi thấp mà còn cả trên cõi thứ tư (cõi đơn nhất
mà Māndūkyopanishad gọi là cõi Turīya) và trên một cõi còn cao
hơn nữa, tức cõi Niết Bàn. Các Ngài đã hoàn tất cơ tiến hóa, đã vượt qua chu kỳ
này đến mức kết liễu và trình độ của các Ngài hiện nay thì sớm muộn gì mọi người
cũng sẽ đạt như vậy khi từ từ leo lên trên. Đây là sự qui nhất của tâm thức;
các hiện thể chỉ còn là công cụ để sử dụng chứ không còn là nhà tù để giam hãm,
và chơn nhơn sử dụng bất kỳ hạ thể nào tùy theo công việc mà mình phải làm.
Bằng cách này thì người
ta đã chinh phục được vật chất, thời gian và không gian, hàng rào ngăn cách của
chúng không còn tồn tại đối với chơn nhơn đã qui nhất. Trong khi leo lên cao, y
phát hiện ra rằng các hàng rào trong mỗi giai đoạn càng ngày càng bớt đi: ngay
cả trên cõi trung giới thì vật chất cũng ít ngăn cách hơn so với ở dưới đây, vật
chất cõi trung giới ít khiến cho y ngăn cách với huynh đệ của mình. Việc vân du
trong thể vía nhanh đến nỗi mà ta có thể nói hầu như đã chinh phục được không
gian và thời gian vì mặc dù con người vẫn biết rằng mình đang đi xuyên qua
không gian, nhưng nó đi xuyên qua không gian nhanh đến nỗi không gian mất đi khả
năng ngăn cách người bạn này với người bạn kia. Ngay cả sự chinh phục đầu tiên
đó cũng vô hiệu hóa sự ngăn cách trên cõi trần. Khi y thăng lên cõi trí tuệ thì
y thấy mình còn có một quyền năng khác: hễ cứ nghĩ tới một nơi nào thì mình đã ở
đó rồi, cứ nghĩ tới một người bạn nào thì người bạn đó đã lù lù trước mắt mình
rồi. Ngay cả trên cõi thứ ba thì tâm thức đã siêu việt được các hàng rào ngăn
cách của vật chất, không gian và thời gian; nó tha hồ có mặt ở bất cứ nơi đâu.
Thấy cái gì là thấy ngay tức khắc đúng vào lúc mình chuyển chú tâm tới sự vật
đó; nghe thấy cái gì là nghe thấy ngay bằng một ấn tượng thôi; không gian, vật
chất và thời gian mà ta quen biết nơi các hạ giới đã biến mất, chuỗi trình tự sự
việc không còn tồn tại nữa trong “hiện tại vĩnh hằng”. Khi y vươn lên cao nữa
thì các hàng rào ngăn cách ngay bên trong tâm thức mình cũng rơi rụng đi, y biết
mình hiệp nhất với mọi tâm thức khác của các chúng sinh khác; y có thể suy nghĩ
giống như họ suy nghĩ, cảm nhận như họ cảm nhận, hiểu biết như họ hiểu biết. Y
có thể nhất thời khiến cho những hạn chế của họ cũng trở thành những hạn chế của
mình để cho y có thể thông cảm chính xác được họ suy nghĩ ra sao, thế nhưng vẫn
giữ được ý thức của riêng mình. Y có thể vận dụng tri thức lớn lao của riêng
mình để trợ giúp cho tư tưởng hẹp hòi hơn và bị hạn chế nhiều hơn bằng cách tự
đồng hóa mình với tư tưởng đó để từ từ mở rộng biên giới của nó ra. Y hoàn toàn
tiếp quản được những chức năng mới trong thiên nhiên khi y không còn chia rẽ với
những người khác nữa mà thực chứng được Chơn ngã vốn là một trong vạn hữu và
phóng năng lượng từ cõi hiệp nhất xuống. Ngay cả đối với những con thú hạ đẳng
thì y cũng có thể cảm nhận được thế giới tồn tại đối với loài thú ra sao khiến
cho y có thể cung cấp sự trợ giúp chính xác mà chúng cần và giúp đỡ được cái mà
chúng đang mò mẫm một cách mù lòa. Vì thế sự chinh phục của Ngài không phải chỉ
cho bản thân mà là cho tất cả, Ngài có được những quyền năng rộng lớn hơn chỉ
là để dùng chúng phục vụ cho mọi chúng sinh tiến hóa thấp hơn Ngài trên thang
tiến hóa; bằng cách này Ngài trở nên hữu ngã thức trên khắp thế gian, vì Ngài
đã học được cách đáp ứng với mọi lời kêu than đau khổ, với mọi nỗi buồn vui xao
xuyến. Ngài đã đạt được tất cả, đã thu lượm được tất cả và Chơn sư là người “chẳng
còn gì để học nữa”. Nói như vậy chúng tôi không ngụ ý là trong tâm thức Ngài và
bất kỳ lúc nào cũng có mọi tri thức khả hữu. Nhưng xét về giai đoạn tiến hóa này
thì không có gì ẩn giấu đối với Ngài nữa, không có điều gì mà Ngài không ý thức
trọn vẹn được khi Ngài chú ý tới nó; trong phạm vi tiến hóa của vạn hữu chúng
sinh – và vạn vật đúng là đang sống – thì chẳng có điều gì mà Ngài không hiểu
được do đó chẳng có thứ gì mà Ngài không giúp được.
Đó là sự khải hoàn tối
hậu của chơn nhơn. Mọi điều mà tôi vừa nói tới ắt là vô giá trị tầm phào nếu nó
chỉ là sự thu lượm cho cái bản ngã hẹp hòi mà ở dưới đây chúng ta công nhận là
bản ngã; bạn đọc thân mến, mọi bước mà tôi vừa cố gắng thuyết phục bạn ắt chẳng
có giá trị gì để ta phải bước tới nếu rốt cuộc chúng đặt bạn lên một đỉnh cao
biệt lập, tách rời khỏi mọi bản ngã tội lỗi đang đau khổ, thay vì dẫn bạn tới tận
thâm tâm của vạn vật nơi mà bạn và các bản ngã đó chỉ là một. Tâm thức của Chơn
sư mở rộng ra bất kỳ hướng nào mà Ngài phóng ra đó, đồng hóa với bất cứ hướng
nào mà Ngài hướng về nó, biết được bất cứ điều gì mà Ngài muốn biết; và mọi thứ
đó cũng chỉ để cho Ngài có thể trợ giúp hoàn hảo vì chẳng điều gì mà Ngài không
thể cảm nhận được, chẳng thứ gì mà Ngài không thể khuyến khích được, chẳng điều
gì mà Ngài không thể củng cố được, chẳng thứ gì mà Ngài không thể trợ giúp được
trong cơ tiến hóa của nó. Đối với Ngài trọn cả thế gian chỉ là một tổng thể rộng
lớn đang tiến hóa, trong đó Ngài giữ địa vị một người trợ giúp cho cơ tiến hóa;
Ngài có thể đồng nhất hóa mình với bất kỳ bước tiến nào và ở ngay bước tiến đó
có thể giúp được điều gì cần thiết. Ngài giúp được cho các giới tinh hoa ngũ
hành tiến xuống thâm nhập vào vật chất và mỗi thứ đều tiến theo đường lối của
riêng mình qua cơ tiến hóa của loài khoáng vật, loài thực vật, loài động vật và
loài người; Ngài giúp đỡ tất cả các thứ đó cũng như giúp đỡ chính mình vậy, đó
là vì cuộc sống của
Ngài vinh diệu ở nơi chỗ
tất cả đều là Ngài, thế nhưng Ngài có thể trợ giúp cho tất cả và trong khi trợ
giúp đó thực chứng được điều mà Ngài trợ giúp cũng là chính mình. Bí quyết là ở
chỗ làm sao có thể từ từ khai triển được điều này khi chơn nhơn phát triển, tâm
thức mở rộng ra để bao trùm nhiều hơn nữa trong khi lại trở nên sống động hơn,
sung sức hơn mà không mất đi ý thức về chính mình. Khi tâm điểm đã trở thành
hình cầu thì hình cầu thấy mình cũng trở thành tâm điểm; mọi điểm đều chứa đựng
mọi thứ và biết mình là hiệp nhất với mọi điểm khác; cái bên ngoài té ra chỉ là
phản ánh của cái bên trong; Thực Tại vốn là Sự Sống Bản Thể Nhất Như và sự khác
nhau chỉ là một ảo giác mà ta đã vượt qua được.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét